Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số cho giai đoạn 2026–2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao [1]. Đây là nguyên nhân dẫn đến làn sóng đẩy mạnh đầu tư trong 2 năm 2025 -2026: khởi công xây dựng cao tốc, đường sắt, khu công nghiệp, bất động sản đô thị... Chỉ riêng ngày 19/12/2025 đã khởi công 234 công trình với tổng vốn đầu tư lên đến hơn trên 3,4 triệu tỷ đồng [2]. Điều này làm dấy lên câu hỏi về quy mô vốn thực tế là bao nhiêu, nguồn tiền, và thực chất sẽ diễn ra như thế nào?
Trong quá khứ, Việt Nam từng đặt ra các mục tiêu rất tham vọng cho 10–20 năm sau, nhưng khi thực tế kiểm chứng thì đều không đạt như kỳ vọng. Chưa cần nhắc tới những mong muốn như vượt Nhật, đuổi kịp Mỹ hay xây dựng xong cơ sở vật chất – kỹ thuật của Chủ nghĩa Xã hội sau 20 năm, ngay ví dụ gần nhất đã đủ cho thấy điều đó. Như mục tiêu “đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” được đề ra tại Đại hội VIII (Văn kiện Đại hội VIII, 28/6 – 1/7/1996), tiếp tục được tái khẳng định tại các Đại hội IX (2001), X (2006) và XI (2011). Hiện nay đã là năm 2026, và thực tế cho thấy mục tiêu này không đạt được.
Đặt mục tiêu vươn lên nhóm các nước phát triển, đạt trình độ như Singapore hay Hàn Quốc là một khát vọng chính đáng và rất cần được ủng hộ. Nhưng biến khát vọng thành hiện thực là việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi những biện pháp thực chất cùng năng lực thực thi bền bỉ, chứ không thể chỉ dựa vào quyết tâm chính trị hay những con số được vẽ ra cho đẹp.
Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030 đòi hỏi phải đi kèm một hệ thống giải pháp phát triển kinh tế đúng đắn và khoa học. Điều cốt lõi không nằm ở việc đạt bằng được một con số tăng trưởng trên 10% mỗi năm, mà ở chỗ xây dựng được một nền kinh tế tăng trưởng bền vững, lành mạnh và phù hợp với thực lực quốc gia. Tăng trưởng 7–8%/năm nhưng nền kinh tế khỏe mạnh, ổn định vẫn tốt hơn tăng 10%/năm mà bên trong tích tụ rủi ro khủng hoảng. Năng lực lãnh đạo được kiểm chứng bằng thực tế, không phải bằng những kỳ vọng duy ý chí.
1. CHỈ SỐ ICOR – “PHÉP BẮT MẠCH SỨC KHOẺ VỐN ĐẦU TƯ”.
Có nhiều chỉ số để đánh giá “sức khoẻ” của nền kinh tế. Trong số đó, chỉ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio - Hệ số vốn trên sản lượng tăng thêm) là “phép bắt mạch” đơn giản nhưng thiết thực.
Chỉ số ICOR được thể hiện qua công thức: ICOR = I/delta GDP, với I là tổng vốn đầu tư và delta GDP là phần GDP tăng thêm.
Trong thống kê vĩ mô, thường sử dụng công thức: ICOR = (đầu tư/GDP)/tốc độ tăng GDP.
Như vậy, chỉ số ICOR cho biết: muốn tăng thêm 1 đơn vị GDP thì nền kinh tế cần bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư.
Ví dụ cụ thể. Giả sử một quốc gia đầu tư bằng 30% GDP, và GDP tăng 6%. Khi đó:
ICOR =30/6=5. Nghĩa là, muốn tạo ra 1 đồng GDP tăng thêm phải cần đầu tư 5 đồng vốn.
Như vậy chỉ ICOR càng thấp, sử dụng vốn đầu tư càng hiệu quả. Chỉ số ICOR càng cao, sử dụng vốn đầu tư càng kém.
Thực tiễn của các nền kinh tế Đông Á thời kỳ cất cánh cho thấy chỉ số ICOR nằm trong khoảng 3-4, đó là thời kỳ đầu tư hiệu quả, nhờ vào công nghệ tốt, quản trị tốt, năng suất cao, ít lãng phí, phân bổ vốn hiệu quả, logistics tốt.
Ngược lại, nếu ICOR cao, ví dụ nằm trong khoảng 7-10, tức là cần từ 7-10 đồng vốn mới mang lại một đồng gia tăng GDP, thì đó là đầu tư kém. Nguyên nhân có thể là do đầu tư dàn trải, không đầu tư vào các lĩnh vực mang lại hiệu suất cao, thất thoát, năng suất thấp, công nghệ kém, thể chế yếu. Cho nên phải sử dụng rất nhiều vốn mới giữ được tăng trưởng.
Có thể ví ICOR như phép “bắt mạch hiệu quả sử dụng vốn” của nền kinh tế. Bởi lẽ ICOR giúp nhìn nhanh: đầu tư có tạo ra năng suất thật không, mô hình tăng trưởng có bền vững không, nền kinh tế đang tăng trưởng nhờ hiệu quả hay nhờ bơm vốn. ICOR đặc biệt hữu ích cho tầm nhìn xu hướng: ICOR giảm dần liên quan đến hiệu quả tăng; ICOR tăng kéo dài có liên quan đến cấu trúc; ICOR tăng cùng bong bóng tài sản là cảnh báo rủi ro; ICOR giảm nhờ công nghệ là chất lượng tăng trưởng tốt.
Hiển nhiên, có nhiều mặt chỉ số ICOR chưa phản ánh được thực trạng: chẳng hạn như không phản ánh chất lượng công nghệ, dễ bị méo nếu số liệu GDP không chính xác. Hay như đầu tư hạ tầng lớn thường làm ICOR tăng ngắn hạn, nhưng có thể tạo ra hiệu quả trong dài hạn. Hoặc ICOR thấp chưa chắc luôn tốt, vì có thể do đầu tư quá ít, không đổi mới công nghệ, làm mất động lực dài hạn.
Bởi thế ICOR là một công cụ chẩn đoán. Nó không phản ánh toàn bộ sức khỏe nền kinh tế, nhưng là chỉ dấu rất quan trọng về: chất lượng tăng trưởng, hiệu quả đầu tư, mức độ phụ thuộc vào vốn và nợ.
2. CHỈ SỐ ICOR CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CÓ GDP TĂNG NHANH
Việt Nam đang đặt mục tiêu vươn mình bứt phá. Xin lấy thí dụ “các con rồng châu Á” như Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc trong quá khứ để tham chiếu.
SINGAPORE
Giai đoạn cất cánh (1965–1990) ICOR của Singapore khá thấp, thường trong khoảng 3–4. Đó là nhờ Singapore có bộ máy quản trị hiệu quả, thu hút FDI chất lượng cao. Các đầu tư của Singapore tập trung vào các thế mạnh mũi nhọn như: cảng biển, logistics, điện tử, tài chính. Bên cạnh đó, thể chế Singapore hầu như không cho phép tham nhũng, lại có nguồn lao động chất lượng cao. Cho nên Singapore tăng trưởng không dựa chủ yếu vào “đổ thật nhiều vốn”, mà dựa vào năng suất và quản trị.
HÀN QUỐC
Chỉ số ICOR của Hàn Quốc cho giai đoạn công nghiệp hóa mạnh (1960–1990) chỉ trong khoảng 3-5. Đây là giai đoạn đặc trưng bởi: sự định hướng mạnh của nhà nước các tập đoàn lớn (Chaebol) được hỗ trợ mạnh nhưng bị ép buộc phải cạnh tranh xuất khẩu. Vốn đầu tư tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn: thép, đóng tàu, ô tô, điện tử..., tạo động lực mạnh cho sự phát triển của Hàn Quốc.
TRUNG QUỐC
Với Trung Quốc vào giai đoạn đầu cải cách (1980–2005) chỉ số ICOR chỉ khoảng 3-4. Nguyên nhân là do FDI mạnh, bùng nổ xuất khẩu, đô thị hoá nhanh và có nguồn lao động nông thôn dư thừa khổng lồ. Nhưng sau năm 2008 ICOR tăng lên trong khoảng 6-8. Do gói kích cầu khoảng 4000 tỷ nhân dân tệ năm 2008 - tiền đổ vào bất động sản, hạ tầng, thép, xi măng, doanh nghiệp nhà nước và địa phương. Làm cho đầu tư hạ tầng lớn, bất động sản phình to, nợ địa phương tăng mạnh. Trong khi đó thì xuất khẩu giảm. Kết quả GDP vẫn tăng mạnh, nhưng đầu tư tăng còn mạnh hơn nhiều. Dẫn đến chỉ số ICOR tăng.
Nhưng từ sau năm 2015 Trung Quốc chuyển dần sang tăng trưởng công nghệ cao. Đẩy mạnh phát triển công hệ số, bán dẫn, tự động hoá, xe điện, trí tuệ nhân tạo, robot… tạo ra giá trị gia tăng cao. Đồng thời siết chặt phát triển bất động sản bằng chính sách ‘ba làn ranh đỏ’. Nhờ đó, giai đoạn 2020-2025 chỉ số ICOR giảm xuống trong khoảng 5-6. Trung Quốc hiện là nước lắp robot công nghiệp lớn nhất thế giới, với nền sản xuất công nghệ cao tăng mạnh.
Tuy vậy, dù đã có cải thiện, Trung Quốc vẫn đối mặt với dư thừa hạ tầng ở một số nơi, nợ chính quyền địa phương, dư cung bất động sản, hiệu quả đầu tư giảm.
VIỆT NAM
Dưới đây là bức tranh tương đối sát về ICOR của Việt Nam giai đoạn 2010–2025. Cần lưu ý rằng ICOR không có “một con số tuyệt đối”. Vì cách tính có thể khác nhau giữa các cơ quan như: Tổng cục Thống kê, WB, ADB, các viện nghiên cứu. Và còn phụ thuộc vào dùng GDP thực hay danh nghĩa, tính theo năm hay trung bình nhiều năm. Nhưng ước lượng phổ biến khá thống nhất.
2010: 6,9-7,2; 2011: 6,7; 2012: 6,5-6,8; 2013: 6,2; 2014: 5,8-6,0; 2015: 5,5; 2016: 5,3-5,5; 2017: 5,5; 2018: 4,9-5,1; 2019: 5,0; 2018: 4,9-5,1; 2019: 5,0; 2020: 8,0; 2021:9-10; 2022: 4,5- 5,0; 2023: 6,0-6,5; 2024: 5,5-6,0; 2025: 5-6.
Như vậy, ngoại trừ các năm 2010-2013 và giai đoạn Covid 2020-2021, ICOR tăng trong khoảng 7-10 thì phần lớn các năm còn lại ICOR giao động trong khoảng 5-6. ICOR của Việt Nam vẫn cao hơn khá nhiều so Singapore và Hàn Quốc và Trung Quốc ở giai đoạn thành công ở mức 3-4. Khá nhiều năm đầu tư toàn xã hội lên tới 33–40% GDP, nhưng tăng trưởng chỉ khoảng 5–6%.
3. XU HƯỚNG TĂNG ICOR GIAI ĐOẠN 2026-2030
Dẫn ra chỉ số ICOR của các nước có giai đoạn phát triển thành công như Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc để cảnh báo nguy cơ đầu tư không hiệu quả của Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030. Với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, đầu tư lớn, nếu không có những biện pháp thích hợp thì chỉ số ICOR giai đoạn 2026-2030 sẽ tăng. Không khó nhìn thấy các xu hướng sau đây.
a/. ĐẦU TƯ DÀN TRẢI
Nhiều dự án được lên kế hoạch triển khai đồng thời ở nhiều địa phương. Tỉnh nào cũng muốn có cảng biển, sân bay, khu công nghiệp… nhưng không ít địa điểm hiệu quả khai thác chưa thực sự thuyết phục.
b/. HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CÒN THẤP
Một lượng vốn lớn tiếp tục được phân bổ cho các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước, nhưng hiệu quả sử dụng vốn ở nhiều trường hợp chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư.
c/. TỶ TRỌNG ĐẦU TƯ VÀO BẤT ĐỘNG SẢN CAO
Trong số 234 dự án khởi công vào ngày 25/12/2025 với số vốn đầu tư khoảng 3,4 triệu đồng [2] thì các dựa án lớn nhất đều thuộc nhóm bất động sản. Ví như dự án khu đô thị thể thao Olympic 925 000 tỷ đồng và dự án trục cảnh quan Đại lộ sông Hồng 855 000 tỷ đồng [2] (điều chỉnh xuống 736 963 tỷ đồng [3].
d/. TỶ TRỌNG ĐẦU TƯ VÀO CÔNG NGHỆ LÕI RẤT THẤP
Trong khi phần lớn vốn thường tập trung vào hạ tầng giao thông, bất động sản – đô thị, xây dựng cơ bản, thì phần vốn dành trực tiếp cho các ngành công nghệ lõi như: AI, bán dẫn, robot, và R&D còn rất hạn chế.
e/. LIÊN KẾT CÔNG NGHỆ YẾU
Dù thu hút FDI khá mạnh trong nhiều năm, khả năng chuyển giao và lan tỏa công nghệ vẫn hạn chế; doanh nghiệp nội địa chủ yếu tham gia các khâu giá trị thấp, chưa làm chủ công nghệ lõi. Đầu tư cho R&D và đổi mới sáng tạo còn chưa tương xứng, làm suy giảm năng lực hấp thụ công nghệ của nền kinh tế.
f/. QUẢN TRỊ CÒN NẶNG TÍNH THỦ CÔNG
Dù nói nhiều về chuyển đổi số và công nghiệp 4.0, bộ máy quản trị ở nhiều cấp vẫn vận hành theo mô hình hành chính thủ công của thời kỳ tiền số hóa: phụ thuộc giấy tờ, dữ liệu phân tán, xử lý chậm và nhiều nấc trung gian. Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào cạnh tranh công nghệ và AI, đây không còn chỉ là bất cập hành chính, mà đã trở thành một điểm nghẽn chiến lược đối với tăng trưởng năng suất. Khi năng lực quản trị thấp, chi phí giao dịch sẽ tăng, tốc độ thực thi giảm, vốn đầu tư bị phân tán và hiệu quả sử dụng vốn suy giảm. Kết quả tất yếu là nền kinh tế phải bỏ ra ngày càng nhiều vốn hơn để đạt cùng một mức tăng trưởng, tức ICOR tăng cao.
Singapore cho thấy điều ngược lại: điều làm nên sức mạnh của quốc gia này không phải diện tích hay tài nguyên, mà là chất lượng quản trị quốc gia. Trong thế kỷ XXI, quản trị hiệu quả là một lợi thế cạnh tranh, một dạng “hạ tầng năng suất” quan trọng không kém hạ tầng giao thông.
Chỉ riêng với 6 xu hướng nêu trên cũng cho thấy: nếu không có những cải cách căn bản về cơ cấu đầu tư, chất lượng thể chế, năng lực công nghệ và hiệu quả quản trị, thì việc mở rộng đầu tư quy mô lớn nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%/năm trong giai đoạn 2026–2030 có nguy cơ dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn suy giảm và ICOR gia tăng.
4. THÁCH THỨC CỦA MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG GDP 10%/NĂM
Tăng trưởng GDP về cơ bản bản phụ thuộc lớn vào tăng vốn đầu tư, năng suất lao động, tiến bộ công nghệ và hiệu quả quản trị.
Trong các nền kinh tế đang phát triển, khi năng suất chưa tăng đủ nhanh, tăng trưởng thường dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư. Khi đó, chỉ số ICOR trở thành một chỉ báo rất quan trọng.
Theo số liệu thống kê phía trên, chỉ số ICOR trung bình của Việt nam giai đoạn 2010-2025 là 6,17. Với mục tiêu tăng GDP 10% trong suốt 5 năm 2026-2030, mà giữ nguyên được chỉ số ICOR ở mức trung bình 6,17, thì đây là một nhiệm vụ không hề dễ.
Với tốc độ tăng GDP 10%/năm và ICOR = 6, thì từ công thức ICOR = (đầu tư/GDP)/tốc độ tăng GDP, suy ra tổng vốn đầu tư hàng năm cần đến 60% GDP. Đây là mức cực kỳ cao.
Nếu lấy GDP của Việt Nam năm 2025 theo số liệu Cục thống kê Bộ Tài chính là 514 tỷ USD [4], chúng ta sẽ có chuỗi con số GDP và vốn đầu tương ứng cho các năm 2026-2030 như sau.
2026: GDP 565,4 tỷ USD, Vốn đầu tư 339,2 tỷ USD;
2027: 621,9 tỷ USD, 373,1 tỷ USD;
2028: 684,1 tỷ USD, 410,5 tỷ USD;
2029: 752,5 tỷ USD, 451,5 tỷ USD;
2030: 827,7 tỷ USD, 496,6 tỷ USD.
Như vậy, trung bình mỗi năm cần 414 tỷ USD (80%GDP năm 2025) để đầu tư. Và tổng số vốn đầu tư cần huy động cho 5 năm là 2 070,9 tỷ USD - lớn hơn GDP Hàn Quốc và bằng 93% GDP của Nga năm 2025. Đây là con số khổng lồ đối với nền kinh tế Việt Nam.
Điều quan trọng khác là năng lực hấp thụ vốn. Với mức đầu tư hàng năm lên đến 60% GDP, thì không chỉ thiếu vốn, mà còn thiếu năng lực hấp thụ vốn. Vấn đề không đơn thuần là huy động đủ tiền. Ngay cả khi có thể huy động lượng vốn rất lớn, nền kinh tế vẫn phải có đủ các dự án hiệu quả, doanh nghiệp đủ năng lực, công nghệ đủ mạnh, nhân lực chất lượng cao, bộ máy quản trị giỏi, thị trường đủ sức hấp thụ sản phẩm đầu ra. Nếu không sẽ dẫn đến tình thế vốn bị dàn trải, đầu tư kém hiệu quả, nhiều dự án khai thác dưới công suất, tăng trưởng tạo ra không tương xứng với lượng vốn bỏ ra. Hậu quả là thua lỗ. Đây chính là giới hạn “năng lực hấp thụ vốn” của nền kinh tế.
Nói cách khác là khả năng đầu tư sinh lời. Giả sử một người được vay 1 tỷ USD với lãi suất 2%/năm, thì cuối năm thứ nhất đã phải trả tiền lời 20 triệu USD. Không phải cứ cho vay bao nhiêu tiền cũng nhận. Vì phải có khả năng đầu tư sinh lời để trả vốn và lãi.
Cầm tiền để đầu tư sinh lời, xét cho cùng, cũng có nét tương đồng với cầm quân ra trận. Trong sử Trung Hoa có tích Lưu Bang hỏi Hàn Tín:
“Như ta thì cầm được bao nhiêu quân?”Hàn Tín đáp:“Bệ hạ nhiều nhất khoảng mười vạn.”Lưu Bang hỏi tiếp:“Còn ngươi?”Hàn Tín trả lời:“Thần thì càng nhiều càng tốt.”
Đầu tư cũng vậy. Không phải cứ có nhiều vốn là hiệu quả sẽ tự tăng lên. Người năng lực hạn chế, quản trị yếu, dù giao quá nhiều vốn cũng dễ dàn trải, thất thoát, hiệu quả thấp. Chỉ khi năng lực tổ chức, quản trị và sử dụng nguồn lực đủ mạnh thì mới có thể “cầm” được lượng vốn lớn mà vẫn tạo ra tăng trưởng hiệu quả.
5. ĐỀ XUẤT LỐI THOÁT
Vậy làm thế nào để đạt tăng trưởng cao mà không phải huy động lượng vốn quá lớn, đồng thời nền kinh tế vẫn hấp thụ được vốn một cách hiệu quả? Nói cách khác, làm sao để duy trì ICOR ở mức khoảng 3–4, tương tự Singapore hay Hàn Quốc trong giai đoạn phát triển mạnh trước đây?
Nếu không có giải pháp thích hợp, tăng đầu tư hàng năm lên đến 50 -60% GDP sẽ đối mặt với nhiều vấn đề nan giải, trong đó có:
- Nợ phình to nhanh hơn tăng trưởng thực
- Bong bóng bất động sản kéo dài rồi vỡ
- Ngân hàng chất đầy nợ xấu
- Doanh nghiệp công nghệ và sản xuất không mở rộng
- Mất cân đối xã hội nghiêm trọng
- Rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” kéo dài
- Khủng hoảng tài chính hoặc suy thoái kéo dài
- ICOR tiếp tục tăng cao.
Vì vậy, với một nền kinh tế đang muốn tăng trưởng nhanh trong thời đại AI và cạnh tranh công nghệ toàn cầu, câu hỏi quyết định không chỉ là “đầu tư bao nhiêu”, mà là vốn được phân bổ vào đâu, tạo ra năng suất gì, và ai là người sử dụng vốn đó.
ĐỀ XUẤT
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10%/năm mà không đẩy ICOR tăng cao, vấn đề cốt lõi không phải chỉ là “đầu tư nhiều hơn”, mà là nâng hiệu quả tạo ra tăng trưởng trên mỗi đơn vị vốn. Nói cách khác, muốn tăng trưởng cao nhưng không rơi vào bẫy đầu tư kém hiệu quả, phải chuyển từ mô hình “bơm vốn” sang mô hình “tăng năng suất”.
Các giải pháp cốt lõi có thể nhìn theo 6 trục chính sau:
a/. Chuyển trọng tâm từ bất động sản sang công nghệ và sản xuất giá trị cao
Đây là thay đổi rất quan trọng. Nếu tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào đất đai, xây dựng, mở rộng đô thị, đầu tư hạ tầng dàn trải, thì ICOR rất dễ tăng mạnh.
Cần ưu tiên phát triển các lĩnh vực như AI, bán dẫn, robot, tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, điện tử, năng lượng mới và cả công nghiệp quốc phòng công nghệ cao.
Đặc biệt phải hình thành các doanh nghiệp công nghệ nội địa đủ mạnh. Không có doanh nghiệp công nghệ mạnh thì rất khó tăng năng suất dài hạn.
b/. Tập trung đầu tư trọng điểm, không đầu tư dàn trải
Một sai lầm phổ biến của các nền kinh tế đang phát triển là tỉnh nào cũng muốn có sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, đô thị lớn. Thi đua xếp hạng các tỉnh có lỗi trong việc thúc đẩy sự đầu tư dàn trải. Điều này làm phân tán vốn, giảm hiệu quả khai thác, tạo hạ tầng dư thừa. Cho nên cần chọn cực tăng trưởng chiến lược, ưu tiên dự án có hiệu quả lớn.
c/. Cải cách thể chế và bộ máy quản trị
Đây là điểm cực kỳ quan trọng. Với Việt Nam HIỆU QUẢ THỂ CHẾ là vấn đề rất nan giải. Nhưng dứt khoát phải giải quyết để phá bỏ các trói buộc phát triển.
Trong thời đại AI quản trị quốc gia phải chuyển sang “quản trị số”. Đây thực chất là nâng năng suất của toàn bộ nền kinh tế. Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan thành công không chỉ vì đầu tư nhiều, mà vì quản trị hiệu quả, ra quyết định nhanh, kỷ luật thực thi cao, dữ liệu minh bạch.
d/. Đầu tư cực mạnh cho R&D và giáo dục kỹ thuật
Các quốc gia tăng trưởng dài hạn thành công đều nhờ vào tỷ lệ R&D cao, có đại học kỹ thuật mạnh và đội ngũ kỹ sư lớn. Ví dụ như Hàn Quốc chi cho R&D khoảng 4–5% GDP, còn Israel thì chiếm hơn 5% GDP.
e/. Nâng cấp doanh nghiệp nội địa và liên kết công nghệ
Nếu doanh nghiệp trong nước chỉ gia công, lắp ráp, làm khâu giá trị thấp như đã diễn ra suốt mấy chục năm qua thì tăng trưởng sẽ phụ thuộc FDI và khó tăng năng suất mạnh.
Nhà nước, không chỉ bằng phát biểu, mà hành động thực tế một cách quyết liêt hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân công nghệ, tăng nội địa hóa, phát triển chuỗi cung ứng nội địa, thúc đẩy chuyển giao công nghệ thật, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh. Phải tạo được “năng lực công nghệ nội sinh” thì mới hy vọng tự hùng cường.
f/. Kiểm soát nợ và hiệu quả đầu tư công
Tăng trưởng nóng bằng vốn vay sẽ dẫn đến bong bóng tài sản và đầu tư kém hiệu quả. Thực tế Trung Quốc sau 2008 cho thấy tăng trưởng vẫn cao, nhưng hiệu quả vốn giảm vì phụ thuộc quá nhiều vào đầu tư hạ tầng và địa ốc.
Vì vậy nhất thiết phải gắn đầu tư công với hiệu quả khai thác, kiểm soát lợi ích nhóm và tránh “GDP nhiệm kỳ”.
6. LÝ TƯỞNG KHẢ THI
Chuyển trọng tâm đầu tư sang công nghệ, từ bỏ sự cuốn hút bất động sản, tránh dòng vốn chảy vào bong bóng tài sản, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho chiến lược đầu tư bền vững. Với 6 trục giải pháp cốt lõi nêu trên, có thể đưa ra một bức tranh tăng trưởng GDP thách thức nhưng khả thi cho giai đoạn 2026-2030.
Cụ thể là, tăng trưởng GDP 8,5%/năm, giữ chỉ số ICOR =4 (hoặc nhỏ hơn). Lúc đó nền kinh tế phải đầu tư 34% GDP mỗi năm. GDP năm 2025 = 514 tỷ USD. Dự tính GDP và vốn đầu tư cho 5 năm tiếp theo 2026-2030 sẽ là
2026: 557,7 tỷ USD, 189,6 tỷ USD;
2027: 605,1 tỷ USD, 205,7 tỷ USD;
2028: 656,5 tỷ USD, 223,2 tỷ USD;
2029: 712,3 tỷ USD, 242,2 tỷ USD;
2030: 772,9 tỷ USD, 262,8 tỷ USD.
Nếu thật sự giữ được ICOR = 4 thì đây là bức tranh mong đợi. Đầu tư/GDP khoảng 34% chưa phải cực đoan, Trung Quốc thời tăng trưởng cao từng 40–45%, và Việt Nam nhiều giai đoạn từng 32–36%. Nên về mặt toán học, mục tiêu này không phải bất khả thi. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: ICOR = 4 có giữ được không? Đây mới là điểm cực khó. Khó mới cần người đứng đầu giỏi.
7. GỬI GẮM
Không ít lần, có các vị ĐBQH đề xuất huy động vàng trong dân để đầu tư, tránh lãng phí. Có người ước tính lượng vàng trong dân khoảng 500 tấn, tương đương hơn 50 tỷ USD.
Nhưng chúng ta dường như đang quên một “núi vàng” khác lớn hơn rất nhiều đang nằm trong bất động sản và hệ thống tài sản thế chấp.
Theo các số liệu công khai chưa đầy đủ, chỉ riêng 4 ngân hàng lớn nhất gồm Agribank, VietinBank, BIDV và Vietcombank (Big4) đã nắm giữ lượng tài sản bảo đảm bằng bất động sản khoảng 11 triệu tỷ đồng. Quy đổi theo tỷ giá hiện nay, khối tài sản này tương đương khoảng 440 tỷ USD, tức xấp xỉ 4.300 tấn vàng.
Trong khi đó, nhóm Big4 chỉ chiếm khoảng 45–50% tổng tín dụng toàn hệ thống. Nếu nội suy ở quy mô toàn ngành ngân hàng, tổng giá trị bất động sản dùng làm tài sản thế chấp có thể lên tới khoảng 22–25 triệu tỷ đồng, tương đương 880–1.000 tỷ USD, tức khoảng 8.600 tấn vàng. Đây mới thực sự là “núi vàng” khổng lồ đang nằm trong bất động sản.
Vấn đề lớn của nền kinh tế hiện nay không phải là làm sao huy động thêm vài trăm tấn vàng trong dân, mà là làm sao giải phóng và phân bổ hiệu quả nguồn lực khổng lồ đang bị hút vào đất đai và tài sản thế chấp, để dòng vốn chảy mạnh hơn vào sản xuất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.
Các vị ĐBQH, các nhà hoạch định chính sách, giới chuyên gia và toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia cần chung trí tuệ tìm cách giải phóng “núi vàng” khổng lồ khoảng 8.600 tấn này để đưa vào đầu tư hiệu quả. Đấy mới là “trận đánh lớn”.
Nhưng tiếc thay, thực tế lại rất nghiệt ngã. Những đại dự án với các danh xưng hoa mỹ như: Đại lộ sông Hồng, Tổ hợp Olympic, Thành phố Bắc Thăng Long, Thành phố Thông minh… vẫn đang tiếp tục cuốn theo hàng triệu tỷ đồng vào bất động sản.
Nếu không thay đổi được cấu trúc phân bổ nguồn lực, nền kinh tế sẽ rất khó chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào tài sản sang mô hình tăng trưởng dựa vào công nghệ, năng suất và đổi mới sáng tạo.
Chúng ta đã có quá nhiều bài học về những mục tiêu tham vọng nhưng nóng vội. Đôi khi, chúng ta quên mất một điều tưởng như nghịch lý mà tiền nhân từng nhắc: “muốn đi nhanh thì phải đi chậm”.
TÀI LIỆU DẪN
[1] https://laodong.vn/.../trung-uong-dat-muc-tieu-tang....
[2]https://znews.vn/ngay-lich-su-voi-hang-tram-du-an-dong....
[3] https://nhandan.vn/ha-noi-thong-qua-chu-truong-dau-tu-du...).
[4] https://vneconomy.vn/tang-truong-gdp-2025-dat-802-quy-mo...
See less