Tranh Trần Nhương
BÀI VIẾT MỚI


THƠ

1.

VŨ TUẤN ANH

Quân đội

2.

PHẠM ÁNH

Bình Định

3.

ĐẶNG VĂN CHƯƠNG

Hà Nội

4.

NGUYỄN NGỌC HẠNH

Đà Nẵng

5.

NGUYỄN NGỌC KHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh

6.

NGUYỄN THỊ HẠNH LOAN

Hà Tĩnh

7.

BẾ KIM LOAN

Hà Nội

8.

HỒ ĐĂNG THANH NGỌC

Thừa Thiên Huế

9.

LÊ THIẾU NHƠN

Thành phố Hồ Chí Minh

10.

BÙI NGỌC PHÚC

Vũng Tàu

11.

NGUYỄN THÀNH TÂM

Hà Nội

12.

TRỊNH QUỐC THẮNG

Hà Nội

13.

TRẦN ĐỨC TRÍ

Hải Phòng

14.

TRẦN ĐỨC TOẢN

Thái Bình

15.

HOÀNG ANH TUẤN

Lào Cai

Xem tiếp

Nguyễn Khắc Phê

Nhà văn Nguyễn Tuân thì những ai “có chữ” trong thiên hạ đều biết, nhưng tôi xin để trong “ngoặc kép”; lý do là tôi nhớ đến cụ Nguyễn và lời nhắc của Cụ trên con đường mang tên Nguyễn Tuân ở quận Thanh Xuân (Hà Nội) mà tôi vừa có dịp qua lại nhiều lần trong những ngày Thu Hà Nội vừa qua.

Lời nhắc của Cụ là với Huế, chứ sinh thời của Cụ thì đã làm gì có đường Nguyễn Tuân. Cuối năm 1996, trước ngày Cụ Nguyễn đi xa một tháng, tôi có dịp bước lên những bậc cầu thang nhỏ trong căn hộ bên đường Trần Hưng Đạo, quãng đối diện phố Yết Kiêu để xin Cụ một bài in vào số chuyên đề “Văn hóa du lịch” của Tạp chí “Sông Hương”. Cụ ngẫm nghĩ, nhìn đâu rất xa về phía cửa sổ, rồi dừng lại bảo tôi :

- Này, mình định viết thế này, các ông có dám đăng không ? Giả sử mất Huế đi...,ừ, cứ giả sử thế ...

- Xin bác cứ viết. Phản đề nhiều khi rất có tác dụng.

Mấy hôm sau, tôi quay lại nhận bài. Không ngờ đây là một trong những trang viết cuối cùng của Cụ. Trong câu chuyện, Cụ đã kể lại nỗi ám ảnh của một người từng học ở Huế, khi vào bệnh viện cứ nằm mơ ú ớ la hét: ”Răng, mi thấy cái chi? Nghe dễ sợ! - Chà chà, tao thấy con sông Hương không còn nước chảy, chỉ còn đôi bờ khô, bờ Bắc bờ Nam đều không có người chi cả!” Lần khác, trong chuyến tàu về thăm lại Huế, ông ta lại nằm mơ ú ớ la hét. “Mi lại thấy cái chi nữa? - Lại thấy mất con sông Hương!” Sau đó, khi đã nằm trên con đò đôi ngay giữa lòng sông Hương rồi, hai người bạn ấy vẫn còn “ôn vấn nhau về những ác mộng MẤT Huế”. Cơn ác mộng nghe qua như là phi lý, nhưng ngẫm kỹ đó là lời cảnh báo cần thiết không chỉ đối với Huế. Những năm qua, Huế cũng như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh để gìn giữ vẻ đẹp riêng và môi trường sinh thái, để không đánh MẤT mình quả là không đơn giản.

 
(Ảnh: Chung cư cao tầng vừa “cắm” bên đường Nguyễn Tuân – Nhìn tư hồ Nhân Chính) NKP 
Xem tiếp
-
Trương Tuần
 
- Cụ ơi, đêm qua không ngủ được tức khí làm bài thơ.
- Thôi bỏ mẹ, cụ mà ẵm giải Nobel hay giải quốc gia thì tôi mất bạn.
- Mất là mất thế nào, bạn lâu năm mới quý,
- Xin cụ cho nghe thơ
- Cụ nghe và thẩm định nhé:
  HÀ NỘI ĐÃ CHẬT NHƯ NÊM
  CÁC CỤ CỨ CỐ CẮM THÊM CAO TẦNG
  TẮC ĐƯỜNG XIN TẶNG NHÂN DÂN
  MÓN QUÀ LẠI QUẢ CỤ MẦN NGON NGON...
- Ôi thơ hay và ý nghĩa quá. Đề nghị cụ tham gia dự thi thơ quốc gia.
- Thi cử gì, thơ vườn mà. Mà thi cử bây giờ đi đêm đi ngày mệt lắm. Tôi đọc cho cụ nghe thôi, xin cụ chén rượu mụ Nở béo.
- Vô tư đi.
- Cụ đúng là tri âm tri kỷ...
- Thì VƯỠN...
Xem tiếp


 Nguyễn Đức Tùng

LẮNG NGHE


Khi người chết ra đi

Họ không còn nghe bạn nữa


Những điều chúng ta vừa nói

Nắng chiều, tóc mai xưa, cánh cửa


Lòng thương nhớ khuôn nguôi

Những thứ ấy họ biết cả rồi


Có khi đã quên

Xòe tay ra: bóng đêm dày đặc


Họ đi sâu vào, tiếng nước chảy róc rách

Cho đến khi không còn ánh sáng


Nếu lắng nghe, họ biết chúng ta khóc

Nhưng họ không lắng nghe, còn nhiều việc phải làm


Lồng ngực bạn nóng ran

Lưỡi bạn bỏng rát


Chúng ta phải đi tìm một ngôn ngữ khác

Như họ từng đoan chắc rằng sẽ gặp lại cuối đường kia

 
Ảnh: Bạn bẻ thăm nhà sàn của Nguyễn Trọng Tạo 
 
Xem tiếp

 Hoàng Minh Tường
  
III- NGƯỜI TIỀN TRẠM 

Cólẽ, người Việt Nam đầu tiên tìm được mộ cha Alexandre de Rhodes là một ông già tóc bạc húi cua, gần tám mươi, nhưng vóc dáng, cử chỉ, hát xướng đôi khi các trai tơ còn khó vượt. Đó là một người Việt có quốc tịch Bỉ, giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, từng có hơn bốn mươi năm giảng dạy tại trường đại học Liége, với lĩnh vực cơ học vật rắn biến dạng, chuyên ngành cơ học tính toán, từng là chủ nhiệm bộ môn cơ học phá hủy thuộc khoa học kỹ thuật hàng không không gian, đại học Liége. Từ năm 1976, giáo sư Hưng đã có nguyện vọng về hợp tác với các trường đại học, các nhà khoa học Việt Nam trong việc đào tạo nhân lực bậc cao để phát triển đất nước. Năm 2006, nghỉ hưu, giáo sư Nguyễn Đăng Hưng về sống tại Việt Nam, tham gia giảng dạy và liên kết với các trường đại học ở Tây Âu đào tạo nhiều thạc sỹ, tiến sỹ cho các trường đại học TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội.

Hình như chính ông phó giáo sư BH, người bị mạng xã hội ném đá tới tấp vì chuyện cải tiến (hay cải lùi ?) chữ Quốc ngữ, là duyên cớ để giáo sư Nguyễn Đăng Hưng quyết chí sang Iran.

- Đang yên đang lành, cái chương trình cải tiến chữ Quốc ngữ của ông BH khiến tôi buồn cả tháng trời. - GS Nguyễn Đăng Hưng bộc bạch - Một người làm khoa học tự nhiên như tôi, hà cớ gì phải quá bận lòng với những vấn đề xã hội. Tôi tự nhủ và cố gạt đi. Nhưng không nổi. Tôi nghĩ, chữ quốc ngữ còn có những điều cần cải tiến, như có nên thay PH bằng F, D bằng Z, hoặc có nên đưa F, J, Z, W, vào bảng chữ cái hay không…, nhưng kiểu làm của ông BH thì không thể được. Chắc chắn có một thế lực nào đó hậu thuẫn cho ông BH, muốn đảo lộn tất cả, muốn xóa bỏ thành quả trăm năm của chữ Quốc ngữ… Nếu cứ nhốt mình trong phòng để bấm iphone cãi nhau với ông BH trên mạng có khi mình phát điên. Tôi nghĩ, thiết thực nhất là chúng ta cần tìm cách nào đó vinh danh tiếng Việt, bảo vệ chữ Quốc ngữ.

 
Ảnh: GS Nguyễn Đăng Hưng, người tổ chức chuyến đi ngược nguồn chữ Việt và tác giả 
Xem tiếp
Nguyễn Tham Thiện Kế

Vừa qua, Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam đã trao Giải A, Giải thưởng VHNT các DTTS, năm 2018 (18 triệu đồng) cho tiểu thuyết lịch sử Đinh Tiên Hoàng của Nhà văn Vũ Xuân Tửu; đồng thời, Ủy ban toàn quốc các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cũng trao Giải thưởng LH VHNT, năm 2018 (20 triệu đồng) cho tiểu thuyết này.


Trong bài trả lời phỏng vấn bán nguyệt san Tinh hoa Việt (báo Đại đoàn kết), 10/2018, với tựa đề Thành công vì tận hiến, tác giả có nhắc đến ý kiến đánh giá của Nhà văn Hoàng Quốc Hải về tiểu thuyết Đinh Tiên Hoàng (đăng kèm theo).


Tinh hoa Việt (Đại đoàn kết)

08:10:48 - Thứ bảy, 13/10/2018

Thành công vì tận hiến

Trước khi sắp ra đời một tác phẩm nào đó, tôi thường cảm thấy trong người bứt rứt, lắm lúc bồn chồn, lo lắng một cái gì đó không đâu. Thậm chí còn dễ cáu gắt, nổi nóng vô cớ... Thế là, tôi lại tắm gội kĩ lưỡng, ngồi quay hướng nam và viết. Bây giờ, tôi đã xuất bản hai mươi bảy tập sách, in chung với các tác giả khác bốn mươi tập sách và còn chừng hai chục tập bản thảo chưa in sách- Nhà văn Vũ Xuân Tửu.

Xem tiếp


Ghi nhớ
Một trăm năm chữ Quốc NgữKết quả hình ảnh cho GS Nguyễn Đăng HÆ°ng Đi tìm nguồn gốc chữ Quốc ngữ

 
 (1919 – 2019)


Bút ký của Hoàng Minh Tường


Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, rồi các nhà nước phong kiến Việt Nam tự chủ từ Ngô Quyền xưng Vương năm 939, với sự xuất hiện của chữ Nôm, loại hình chữ Việt của tầng lớp trên biến thể từ chữ Hán, hầu hết các văn bản chính thống Quốc gia, các trước tác, văn bia, tàng thư lưu trữ…, cho đến năm 1919, đều dùng chữ Hán và chữ Nôm. Đọc được thứ chữ này chỉ có các nhà nho và quan lại, hơn chín mươi chín phần trăm dân cư mù chữ. Chỉ đến khi vua Khải Định ra đạo dụ ngày 26 tháng 11 năm Mậu Ngọ ( 28/12/1918) bãi bỏ các khoa thi lều chõng cử tử, đưa chữ Quốc ngữ vào nhà trường, chữ Việt hiện đại mới chính thức được phổ cập và phát triển trên toàn xứ sở.

Sự thần kỳ nào đã giúp người Việt thoát thứ chữ tượng hình hàng nghìn năm bao quấn tư duy và tự tôn dân tộc để có một hệ ký tự Latin hiện đại, để rồi một trăm năm qua khởi phát giao hòa đông tây, kết nối đồng bào, khuếch tán văn hóa với toàn nhân loại?

Hãy làm một cuộc ngược dòng, tìm đến nguồn cội của chữ Quốc ngữ.



  1. MỘT ĐẤT NƯỚC KỲ BÍ


Đất nước Iran trông tựa như một chiếc lá phong bay phần phật giữa vùng Tây Á và Nam Á, kẹp giữa hai biển, phía bắc là Caspi ( Lý Hải), phía nam là vịnh Pecxich. Bay trên trời, tưởng tượng Airbus đang là chiếc thảm bay, từ Istanbul đến Teheran, nhìn xuống, chỉ thấy bao la một vùng cao nguyên khô cằn màu đất gan gà. Đi đường bộ dọc bắc nam từ bờ Caspi đến bờ vịnh Pecxich cũng điệp trùng những dải núi như được nung đốt thành sành gốm và mênh mông hoàng thổ. Hiếm hoi lắm mới gặp một vạt xanh. Đúng hơn là những chấm xanh.

 
Ảnh: Các thành viên đoàn Việt Nam trước  Alexandre de Rhodes
Xem tiếp

Trần Nhương

Nguyễn Trọng Tạo tuổi Đinh Hợi (1947), tôi tuổi Tân Tỵ (1941) nhưng cùng trang lứa trong đội ngũ những người viết văn quân đội thời chống Mỹ. Từ năm 1976 gặp nhau rồi thân nhau gần nửa thế kỉ.

Sau chiến thắng năm 1975, Tổng cục Chính trị tổ chức Trại viết văn toàn quân để chuẩn bị cho những cây viết này đi tu nghiệp Đại học Nguyễn Du sắp mở. Hơn 20 người trong toàn quân được triệu tập về: Hữu Thỉnh từ Thiết giáp, Chu lai từ Đặc công, Lê Văn Vong, Nguyễn Ngọc Mộc từ B2, Đình Kính, Trần Đăng Khoa từ Hải quân, Tô Đức Chiêu từ Pháo binh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Duy Ngữ từ Không quân, Xuân Đức, Đào Thắng, Nguyễn Trọng Tạo từ Quân khu 4 tôi từ Hậu cần…Tôi gặp Tạo từ năm đó và sau này cùng học khóa I Đại học viết văn Nguyễn Du 3 năm (1979-1982). Tạo được phân công ở cùng phòng với Trần Đăng Khoa trong ngôi nhà cấp 4 ven sông Tô Lịch xã Trung Hòa, Cầu Giấy. Có lần chị Thọ vợ Tạo ra thăm, Trần Đăng Khoa sơ tán sang ở cùng tôi. Khi chị Thọ về, Khoa lại trở về phòng và gã kêu “kinh bỏ bố”. Hỏi kinh cái gì gã không nói.

Năm 1977, Trại văn quân đội dưới sự dẫn dắt của nhà văn Hồ Phương, Xuân Thiều anh em kéo đi Đà Lạt 2 tháng để viết. Tại đây biết bao chuyện vui, nhà văn Xuân Đức viết vè bắt bệnh từng người: Hữu Thỉnh thì hôn mê ca dao tục ngữ, Trần Nhương thì sơ cứng cảm xúc, Nguyễn Ngọc Mộc thì thổ tả chấm phảy, Chu Lai thì luyến ái ma nhập, Nguyễn Trọng Tạo thì rối loạn thần kinh thơ…Trong thời gian ấy Tạo đã viết ca khúc Em có về Di Linh phổ thơ Khuất Quang Thụy. Mỗi lần họp mặt là Tạo lại hát ca khúc này. Chúng tôi được tiêu chuẩn như đi điều dưỡng nên sữa đường tích cóp khá nhiều. Ngày về Sài Gòn anh nào anh ấy mang ra chợ bán lấy tiền mua quà mang về Bắc

 
Ảnh: Gặp nhau đầu xuân Mậu Tuất 
Xem tiếp
 
Vi Thùy Linh
 
 Kết quả hình ảnh cho Tôi và  là ng tôi

Tập hồi ức tuổi thơ Tôi và làng tôi (NXB Hội Nhà văn, 2018) của nhà văn dịch giả Lê Bá Thự (Sinh năm 1942) là tác phẩm văn xuôi đầu tiên của ông. Với tôi, nhà văn dịch giả Lê Bá Thự - một sứ giả văn hóa với nhiều đóng góp trong cuộc đời mình, dành thời gian chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn học (đa thể loại) của văn học Ba Lan sang Việt Nam, đã là một nhà văn từ lâu. Lao động nghiêm túc, câu chữ chỉn chu, kỹ lưỡng trong từng chú thích, lối dịch chuẩn xác mà xúc cảm - những điều đó đã xứng đáng coi Lê Bá Thự là một nhà văn đích thực.

Ở tuổi 76, ông in tác phẩm văn xuôi đầu tiên. Sự chuẩn bị chu đáo của vợ chồng ông, nỗi hồi hộp và mong ngóng của ông đến ngày ra mắt sách (tổ chức tại hội trường Hội Nhà văn Việt Nam số 9 Nguyễn Đình Chiểu sáng 12/9/2018), khiến tôi rơi vào phức cảm. Vừa sốt ruột cho mình gần 5 năm chưa xuất bản sách vì bận việc gia đình. Vừa xúc động bởi trải 22 năm văn chương, đã chứng kiến nhiều nghịch cảnh, thật - giả của giới cầm bút, người viết văn - thơ mang danh nhà văn nhà thơ thì nhiều, mà văn - thi sĩ đích thực thì ít; nên Lê Bá Thự, một người làm văn chương tử tế như lối sống của ông, thật đáng trọng.

Cầm cuốn Tôi và làng tôi, chợt nhớ tác giả phim tài liệu nổi tiếng Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế, đạo diễn NSND Trần Văn Thủy, người xuất phát là một quay phim chiến trường thời chống Mỹ, đã cùng phim của mình đi nhiều nước trên thế giới, đã làm phim và viết sách ở nước ngoài, có một tập tùy bút đầu tiên xuất bản ở Mỹ trước khi in ở Việt Nam. Nếu đi hết biển. Nếu đi hết biển thì đến đâu? Đi khắp biển khắp châu lục, để về làng của mình.

Xem tiếp
Bạn đọc khắp nơi trên thế giới truy cập vào trannhuong.com
Profile Visitor Map - Click to view visits
Click vào đây để xem chi tiết (Hình ảnh 5 phút cập nhật lại 1 lần)