Tranh Trần Nhương
BÀI VIẾT MỚI
Tô Hoàng
 

Nhìn tổng thế Điện ảnh Việt Nam vẫn đang đứng trước mấy vấn nạn sau đây:

 

-Phim rơi vào tình trạng “ chân không tới đất, cật không thấy trời”. Xem phim VN bây giờ không thấy hiển hiện trên màn ảnh nông thôn, thành thị, miền biển, miền núi của đất nước ta. Hầu như tất cả là vila, xe hơi loại đắt tiền và cuộc sống vô lo, vô nghĩ của đám trẻ trong lễ hội, nhã nhạc và các mốt thời trang…. Còn nhân vật của phim là những con người mang hình hài, lời ăn tiếng nói VN đấy, nhưng họ hoàn toàn không phải là con người VN của những năm tháng này, với những âu lo, toan tính, những vui buồn, thất vọng và tuyệt vọng có thật. Tại LHP Hà Nội mới năm 2018 vừa rồi, xem phim của Philippin, Thái lan, Malaysia.. mang dự thị, báo giới nước ta đã giật mình phát ra những tín hiệu SOS rằng, phim của các bạn ta hóa ra in đậm dấu vết con người, mảnh đất và những vấn đề xã hội của nước họ, còn phim nước ta cứ thêm phụ đề tiếng Anh vào, chiếu ở ở các nước trong khu vực hoặc châu Á đều giống y trang cuộc sống ở nơi đó.

 

- Vấn nạn thứ 2: Nạn “ xâm thực” dịu ngọt, êm ả của Điện ảnh Hàn Quốc, văn hóa Hàn quốc. Chúng tôi muốn nhấn mạnh sự ảnh hưởng này ở khía cạnh nó đã thấm đẫm ngay cả tới lời ăn tiếng nói, cách ứng xử, thái độ yêu ghét..của các nhân vật người Việt, trong các bộ phim Việt ( Rõ nhất trong loạt phim dự thi LHP Bông Sen tại Đà Nẵng cuối năm 2017 )

 

- Vấn nạn thứ 3: Điện ảnh nước ta đã lạc hậu rất xa với điện ảnh hiện đại thế giới. Ở đây, không chỉ muốn nói tới mặt trang thiết bị, mà cần nhấn mạnh hơn cả tới phương pháp và cung cách biểu hiện của điện ảnh khi có sự tham gia của kỹ thuật số 3D, 4D. Xin nêu một ví dụ, nếu chúng ta xem lại những bộ phim Mỹ của những năm 1950 đổ về trước như “ Salablanca”, “Bữa ăn sáng ở Tafani”, “ Chuyện tình một đêm”, ngay cả phim “ Cuốn theo chiều gió ” chúng ta sẽ thấy rõ sự hạn chế cách biểu biện bằng ngôn ngữ điện ảnh so với cách biểu hiện của ngôn ngữ văn chương. Ngày nay điện ảnh hiện đại đã vượt qua thanh barie ấy. Và nó có đủ khả năng lách vào mọi ngõ ngách tâm hồn, động chạm tới mọi dục vọng của con người, không thua kém gì bất cứ tác phẩm văn chương nào. ( Ví dụ như với phim “ The Readers “ chẳng hạn )

Xem tiếp
Trần Dần
 

Những ghi chép trong di cảo, đọng lại như một tập tiểu luận đặc sắc của thi sĩ Trần Dần. Những ghi chép vẫn còn ở dạng bản thảo sơ khai trong sổ tay, xin giới thiệu những thao thức của ông như là những ý kiến thảo luận về “nghiệp” thơ vốn dĩ đầy vất vả, gian nan.

Thơ là cái gì?

Người bảo Thơ là đẹp
Người bảo Thơ là chân lý
Người bảo Thơ là sự thực
Người bảo Thơ là cuộc đời
Người bảo Thơ là yêu đời – là ghét đời.

Bao nhiêu định nghĩa, cứ định nghĩa ra, đem mà mổ xẻ lý lẽ thì lại thấy không đúng, không phải hoàn toàn là Thơ.

(…)

- Thơ là nơi xã hội, loài người sử dụng cao độ toàn bộ khả năng của mình.

Trong thơ, nhân loại yêu ghét giận hờn, ao ước, mộng mị, suy nghĩ. Nhân loại biến hóa: Sống chết, luân hồi, tái sinh nhân loại mọi mặt: Triết học, chính trị, quân sự, kinh tế, thiên văn, cả bói toán, tử vi v.v... cho nên Thơ tức là một thứ biểu hiện cao độ, toàn bộ, đầy đủ và trọn vẹn của nhân loại.

Thơ có phải vì vậy mà là đệ nhất hạng, trên hết không? Nghe định nghĩa trên, ối cán bộ đã lo: Đặt thơ ra ngoài, và cao hơn chính trị! Không phải.

Ví dụ bộ óc chỉ huy con người, nhưng bộ óc chỉ là một phần, cả người mới là con người. Cũng như chính trị chỉ huy Thơ, nhưng chính trị chỉ là một phần của xã hội, mà Thơ mới là mọi mặt trọn vẹn của xã hội.


Nghề làm thơ

- Làm thơ: Một nghề nghiệp khó khăn. Nhiều vinh nhưng mà nhục nhiều hơn.

- Khó khăn nhất là gì? Chỉ xét riêng về mặt sinh nhai thì thơ là một nghề khó kiếm sống. Bài thơ là thứ hàng rẻ nhất, tuy rằng làm nó tốn tiền nhất.

Ví dụ 3 tháng liền ra bờ hồ, tốn khá nhiều nước, khá suy nghĩ, tôi mới lẩy được một bài “Chuyện một người thi sỹ ngồi cả đêm bên nước Hồ Gươm”. Chưa có ai mua, mà có mua thì cũng không đủ tiền vốn?- Vậy thì bó buộc người thi sỹ phải có một thứ nghề khác kiếm ăn hàng ngày.

Thơ là mục đích mà phải thành nghề tay trái... Làm nghề khác chỉ là một phương tiện, nhưng hóa ra phương tiện trùm sang tay phải, choán cả mục đích.

 
Xem tiếp
Nguyễn Thụy Kha
 Kết quả hình ảnh cho nHÀ VĂN xUÂN cANG
 

Xuân Cang (trong ảnh) sinh ngày Nô-en năm Nhâm Thân 1932 tại làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Ngay từ năm 16 tuổi, cậu bé Xuân Cang đã làm liên lạc ở chiến khu Việt Bắc thời "Trường kỳ kháng chiến". Rồi ông làm thợ tiện quân giới, thợ lò cao luyện gang quốc phòng cùng anh hùng Ngô Gia Khảm. Những năm cuối kháng chiến chống thực dân Pháp, ông nhập ngũ, trở thành trinh sát pháo binh. Sau hòa bình, khi Thái Nguyên được chọn làm "thủ đô gang thép", ông đã là cán bộ công đoàn ở đó. Chính năm tháng ấy, ông đã viết "Suối gang". Ông trở thành một trong những nhà văn công nhân đầu tiên ghi dấu ấn vinh quang bằng những giải thưởng viết về đề tài công nhân lần 1 (1969 - 1971) với tập truyện ngắn Những vẻ đẹp khác nhau, lần 2 (1971 - 1974) với tiểu thuyết Trước lửa. Vừa nắm giữ nhiều giải thưởng văn học, Xuân Cang vừa nắm giữ nhiều cương vị lãnh đạo công đoàn, văn học và báo chí.

Ðọc và yêu mến Xuân Cang từ thuở ấu thơ, mãi đầu năm 1981, tôi mới được gặp Xuân Cang tại cuộc họp mặt của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Ngồi bên ông, tôi không ngờ lớp đàn anh như ông lại quan tâm đọc lớp trẻ đến thế. Ông nói ông thích Trăng Ba Vì, bài thơ tôi in trên Văn nghệ quân đội năm 1979. Thế là anh em thành thân thiết.

Thời kỳ làm báo Lao Ðộng mà ông là Tổng Biên tập cũng có nhiều điều đáng ghi nhớ. Ðấy là lúc ông vừa tâm đắc biến Lao Ðộng thành tờ báo tầm cỡ trong cả nước, vừa viết tiểu thuyết Những ngày thường đã cháy lên làm rung động văn đàn cả nước những ngày đầu đổi mới. Khi ấy, tôi là cộng tác viên của báo. Rất nhớ đầu năm 1988, anh em gặp nhau ở TP Hồ Chí Minh, ông hỏi tôi có thơ cho báo Tết không? Lúc đó, chúng tôi cùng ngồi ở gần cơ quan thường trú báo Lao Ðộng. Nhìn thấy một người giơ cao cành đào đi qua, tôi nói với Xuân Cang rằng sẽ có ngay bài thơ Tết. Lát sau, khi tôi đọc bài thơ Cành đào, ông gật gù và chép lại. Bài thơ được in báo Tết 1988. Ðến khi ông sang làm Giám đốc Nhà xuất bản Lao Ðộng thì cũng chính ông cùng Ban biên tập là "bà đỡ" cho cuốn Văn Cao - người đi dọc biển của tôi.

Xem tiếp
 
 TNc: Sáng hôm nay, 21-3-2019, lãnh đạo và nhân dân xã Thụy Liên huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đã tổ chức lễ khánh thành khu lưu niệm "Bến không chồng". Địa danh này những năm chiến tranh bao nhiêu người đàn bà đã đưa tiễn và ngóng đợi những người đàn ông của mình. Nơi đây cũng là quê của nhà văn Dương Hướng. Dựa vào những chi tiết ở làng, nhà văn Dương Hướng đã viết tiểu thuyết BẾN KHÔNG CHỒNG năm 1990. Tiểu thuyết được dư luận đánh giá cao. Năm 1991, tác phẩm được trao Giải thưởng Hội Nhà văn VN, được dịch ra nhiều thứ tiếng, được dựng 2 bộ phim Bến không chồng và Thương nhớ ở ai dều do đạo diễn Lưu Trọng Ninh đạo diễn.
Xã Thụy Liên đã có một ứng xử văn hóa tuyệt vời. Nhà văn Dương Hướng nói: "Tôi được giải thưởng Nhà nước nhưng không sướng bằng giải thưởng nhân dân quê tôi trao cho"
Nhà văn Nguyễn Bình Phương thay mặt BCH Hội Nhà văn về dự và phát biểu. Đông đảo bạn văn từ Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng...đã đến chung vui với nhà văn Dương Hướng.
 
 
 
Xem tiếp
Kết quả hình ảnh cho Nhà văn Xuân Cang

Nhà văn Xuân Cang, sinh năm 1932, quê Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã qua đời ngày 19.3.2019, lễ viếng từ 7-9 giờ ngày 22.3 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Nhà văn Xuân Cang tham gia cách mạng từ năm 1948 rồi vào bộ đội, sau làm Tổng biên tập báo Lao Động, Giám đốc NXB Lao Động, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa IV.


Ông là một nhà văn, nhà báo đã từng ghi dấu ấn trên nhiều lĩnh vực, đã in gần hai chục tập truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, biên khảo với những tác phẩm đáng chú ý như: Suối gang, Gió thiêng, Trước lửa, Những ngày thường đã cháy lên, Huyền thoại một thời ly tán, Dấn thân, Tám chữ Hà Lạc và quỹ đạo đời người…và được trao nhiều giải thưởng văn học của Hội Nhà văn VN, Bộ Quốc phòng, Tổng liên đoàn lao động,

Trang trannhuong.com xin chia buồn với gia quyến và cầu cho linh hồn nhà văn Xuân Cang thanh thản về Trời

Xem tiếp

Nhà thơ Đoàn Xuân Hòa
Kết quả hình ảnh cho Trần Nhương kí họa nhà thơ Thạch Quỳ

Nhà thơ Thạch Quỳ tên thật là Vương Đình Huấn, sinh năm 1941 tại làng Đông Bích, xã Trung Sơn, huyện Đô lương, tỉnh Nghệ An – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã cho ra mắt 8 tập thơ: Sao và Đất (in chng cùng nhà thơ Quang Huy - 1967); Tảng đá và nhành cây (1973); Nguồn gốc cơn mưa (thơ thiếu nhi 1978); Con chim Tà vặt (1985); Cuối cùng vẫn một mình em (1996); Đêm Giáng sinh (2004); Tuyển thơ Thạch Quỳ (2009); Bức tượng (2010).

Năm 2018, theo đặt hàng của UBND tỉnh, NXB Nghệ An cho ra mắt cuốn Thạch Quỳ - Tuyển tập thơ tập hợp gần như toàn bộ những bài thơ của ông trong hơn nửa thế kỷ xuyên suốt từ chiến tranh chống Mỹ đến nay. Cả cuộc đời Thạch Quỳ gắn bó với xứ Nghệ, nhất mực với thơ, ngổn ngang trăm mối cùng những thăng trầm của Đất nước.


Với tôi, nhà thơ Thạch Quỳ không chỉ là đồng nghiệp văn chương mà còn là Thầy dạy. Tôi may mắn được học Thầy môn toán cấp 3 những năm 68 – 70 của thế kỷ trước. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư, huống hồ Thầy còn “cứu vớt” tôi qua hoạn nạn. Vì vậy, từ trong tâm khảm, tôi luôn là cậu học trò nhỏ và kính trọng Thầy hết mực. Vẫn còn đọng lại trong tôi những bài thơ của Thầy “Rồi ngày mai tôi phải đi xa/ Hoa phượng nở trên đầu như lửa cháy…”; những câu thơ tình yêu đẹp đến dung dị, lặng thầm mà xốn xang, đợi chờ mà thánh thiện “Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc/ Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về”; rồi những câu thơ ngày tiễn Bác, hôm nay đọc lại vẫn chưa hết rùng mình: “Đảng kính yêu/ Con quen gửi đời con vào chân lý của người/ Như quen gửi niềm tin vào sự thực/ Sao phút ấy bỗng trở nên ngờ vực/ Ai loan tin Bác đã qua đời…”.

 
 * Chân dung Thạch Quỳ do Trần Nhương phác họa
 
 
Xem tiếp
 
TNc: sáng nay 19-3-2019, BCH Hội Nhà văn Việt nam đã gặp gỡ một số báo chí thông tin về việc 10 năm nay Hội đi kiện vì bị xẻo đất vàng tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu. Qua trình bày của Phó CT Hội Nguyễn Trí Huân và Luật sư thì đất Hội Nhà văn quản lý là đất công sản nhưng quận Hai Bà Trưng đã hợp pháp hóa cho tư nhân và cấp sổ đỏ, xẻo đi 45 mét vuông đất Nhà nước. Đến dự có báo Nhân Dân, Công an nhân dân, Người Cao tuổi và nhiều cơ quan báo chí khác. Vụ kiện này đang kiến nghị xử phúc thẩm. 
Xem tiếp

Phạm Ngọc Chiểu
Kết quả hình ảnh cho nhà văn dương Duy Ngữ
Đại tá, nhà văn Dương Duy Ngữ cất tiếng chào đời ngày 10 tháng 7 Âm lịch năm 1942 trong một gia tộc có truyền thống hiếu học và nhiều chữ nghĩa thuộc làng Phượng Cách (còn có tên Nôm là làng Gồ), xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai
Nhà văn Dương Duy Ngữ của vùng đất “Xứ Đoài mây trắng” với bao tên tuổi danh nhân lừng tiếng mọi thời.

Ông nội là cụ cử tiếng tăm vang xa về học vấn và nhân cách, bố là cụ tú Dương Duy Hỗ được lưu danh là cụ tú làng Gồ, chàng Trưởng nam của gia tộc Dương Duy noi theo cha ông quyết chí học hành một lèo qua các cấp học bậc phổ thông. Nhưng đường học của Dương Duy Ngữ đang hanh thông bỗng bị chiến tranh chặn lại. Ngày 25 tháng 2 năm 1964, nghe theo tiếng gọi chống Mỹ cứu nước, chàng Trưởng nam gia tộc Dương Duy của quê hương Phượng Cách tình nguyện nhập ngũ, làm Pháo thủ số 5, khẩu đội 7 thuộc Lữ đoàn pháo cao xạ 234, mật danh Tam Đảo, của Quân chủng Phòng không - Không quân, sẵn sàng đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân và Hải quân của đế quốc Mỹ. Sau hơn 3 tháng huấn luyện, ngày 4 tháng 6 năm 1964, chàng pháo thủ số 5 Dương Duy Ngữ cùng khẩu đội hành quân sang Lào, giúp nước bạn đánh trả không quân Mỹ. Chỉ nửa tháng sau ngày đặt chân lên đất nước Triệu Voi, ngày 29 tháng 6 năm 1964, Dương Duy Ngữ cùng khẩu đội đánh trận đầu tiên với máy bay Mỹ trên đất Noọng Hét. Mười lăm ngày sau, khẩu đội anh đối mặt với không quân Mỹ trận đánh thứ hai. Trận này, bom Mỹ đánh trúng trận địa khẩu đội 7, cỗ pháo và anh em trong khẩu đội bị bật văng đi, khẩu đội bị thương vong, may pháo thủ số 5 Dương Duy Ngữ chỉ bị xây xát. Qua những trận thử lửa ác liệt, chàng trai làng Phượng Cách trở nên dạn dĩ, không phân vân, ngần ngại với vị trí và trách nhiệm của người pháo thủ số 5, dù đó là một vị trí và trách nhiệm vừa nặng nề vừa rất nguy hiểm khi lâm trận.

Sau những trận đánh bên nước bạn Lào, Lữ đoàn pháo cao xạ 234 nhận lệnh về nước, vào Hàm Rồng chốt giữ để bảo vệ cây cầu sắt rất quan trọng này, giữ cho sức người, sức của từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam qua cầu thông suốt.

Xem tiếp
 
 PVKết quả hình ảnh cho Trụ sở Hội Nhà  văn VN
 
 TNc: Đất nhà nước giao cho Hội Nhà văn VN nhưng Mặt trận Tổ quốc VN quyết định cấp đất, quân Hai Bà Trưng Hà Nội cấp sổ đỏ. Kiện ra tòa Tòa xử Hội Nhà văn thua kiện. Hiện giờ sẽ phải phúc thẩm. Kì lạ thật.
 
Bộ Tài chính đã gửi công văn số 15726/BTC-QLCS, trả lời công văn của Hội Nhà văn Việt Nam, trong đó khẳng định khu đất số 9 Nguyễn Đình Chiểu, toàn bộ 700m2 là tài sản công, Nhà nước giao cho Hội Nhà văn Việt Nam quản lý và sử dụng. Trong đó có căn hộ của bà Nguyễn Thị Nhị tạm lưu cư. Hội Nhà văn Việt Nam có trách nhiệm thu hồi khu đất bà Nhị đang sử dụng, hỗ trợ chi phí di dời theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, như một sự thách thức, gia đình bà Nhị khởi công xây dựng một ngôi nhà 4 tầng tại khu vực được Hội Nhà văn tạm bố trí.


Những chuyện còn khuất lấp từ việc “xẻ thịt” ngôi nhà số 9 Nguyễn Đình Chiểu
Từ nhiều năm nay, ngôi nhà số 9 Nguyễn Đình Chiểu vẫn được xem là một địa chỉ tin cậy, ấm áp, bình yên của giới văn chương cả nước. Nhiều hoạt động, nhiều sự kiện văn học quan trọng, nhiều tác phẩm văn chương ghi dấu ấn trên văn đàn, góp phần tích cực vào sự phát triển văn hóa xã hội của đất nước, cũng được tổ chức hoặc ra đời từ đây. Tuy nhiên bạn đọc, và thậm chí là cả khá nhiều các nhà văn là hội viên của Hội, cũng chưa được biết rõ về lai lịch của ngôi nhà này, và lại càng ít người biết rằng từ hơn 10 năm nay, ngôi nhà số 9 Nguyễn Đình Chiểu đang ở trong tình trạng bị chiếm đoạt một phần, một việc làm ngang nhiên xâm phạm đến công sản của Nhà nước lại được che đậy, được hợp thức hóa bằng những quyết định hành chính tưởng chừng như rất minh bạch. Đối mặt với sự việc trên, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, những người vốn quen với những âm thầm của văn chương chữ nghĩa hơn là những khe khắt rạch ròi của công tác quản lý hành chính, lại càng xa lạ với những khuất tất của đời sống đang ngày càng được lượng hóa bằng những giá trị ít tính nhân văn; rõ ràng đã trở thành đối tượng yếu thế, bị chèn ép ngay cả trong các hoạt động tư pháp vốn vẫn được xem là đại diện của công lý này.

Xem tiếp
Bạn đọc khắp nơi trên thế giới truy cập vào trannhuong.com
Profile Visitor Map - Click to view visits
Click vào đây để xem chi tiết (Hình ảnh 5 phút cập nhật lại 1 lần)