Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

SAI LẦM LỊCH SỬ VỀ MỘT VÙNG ĐẤT, BẮT NGUỒN TỪ MỘT BÀI THƠ

Trần Nhuận Minh
Thứ năm ngày 21 tháng 5 năm 2026 3:43 PM




Chuyện này rất hi hữu. Nghĩa là theo tôi biết, ở nước ta, dường như mới chỉ xảy ra duy nhất có 1 lần ở vùng đất Quảng Ninh hiện nay mà thôi. Bài thơ khởi nguồn cho những sai lầm nghiêm trọng đó là bài "Phóng cuồng ca" của Tuệ Trung thượng sĩ (Trần Tung) thiền sư thời Trần, bản dịch của Hòa thượng Thích Thanh Từ, như sau:

“Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang

Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương.

Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi

Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

Đói thì ăn chừ cơm tùy ý

Mệt thì ngủ chừ nào có quê hương.

Hứng lên chừ thổi sáo không lỗ

Chỗ lặng chừ đốt giải thoát hương.

Nhọc chút chừ nghỉ đất hoan hỉ

Khát uống no chừ thang tiêu dao.

Qui Sơn láng giềng chừ chăn con trâu nước

Tạ Tam đồng thuyền chừ hát khúc Thương Lang.

Thăm Tào Khê chừ chào Lư Thị

Viếng Thạch Đầu chừ sánh lão Bàng.

Vui ta vui chừ Bố Đại vui

Cuồng ta cuồng chừ Phổ Hóa cuồng.

Chao! Chao! Chừ giàu sang mây nổi

Năm tháng chừ cửa sổ ngựa qua.

Đi càn chừ đường quan hiểm trở

Chịu sao chừ ấm lạnh tình đời.

Sâu thì xắn chừ cạn thì vén.

Dùng thì hành chừ bỏ thì tàng.

Buông bốn đại chừ đừng nắm bắt

Tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng.

Thỏa nguyện ta chừ được sở thích

Sống chết bức nhau chừ nơi ta ngại gì?

Bài thơ này rất nổi tiếng trong thơ thiền Việt Nam, được coi như một kiệt tác. Tác giả là thiền sư Trần Tung, nhưng Bùi Huy Bích ( 1744 - 1818), một học giả nho giáo lớn cuối Lê đầu Nguyễn, lại ghi nhầm tác giả là Trần Quốc Tảng. Tất cả bắt nguồn từ sự nhầm lẫn tệ hại này, khi "Hoàng Việt thi tuyển" được xuất bản năm 1825. Tại sách này, Bùi Huy Bích đã ghi : “Trần Ninh vương Quốc Tảng là con cả của Hưng Đạo”, “tự đặt hiệu là Tuệ Trung thượng sĩ, thường cưỡi thuyền ở khúc Cửu giang, ngâm thơ và sáng tác Phóng cuồng ca”. Chỉ hơn 2 dòng mà có đến 5 cái sai, cái sai nào cũng rất nghiêm trọng. “Ninh vương” tên tước đầy đủ là Hưng Ninh vương, vua Thánh Tông nhà Trần phong cho Tuệ Trung Thượng sĩ, sau đám tang cha ông là Trần Liễu ( vì thương cảm mà phong, chứ không phải vì chiến công ) năm 1251, vua Trần Nhân Tông ghi lại việc này, nhưng cũng chỉ ghi pháp danh của ông, chứ không ghi tên húy của ông là Tung ( Trần Tung), nếu Lê Tắc, sử gia giặc, không một lần ghi, thì cho đến nay, chắc chắn chúng ta cũng không biết tên ông là ai. Sở dĩ Lê Tắc biết tên húy của ông là Tung, vì Tắc là người làm việc trong nhà Trần Kiện. Kiện là con Trần Quốc Khang, danh chính ngôn thuận, Khang là con Thái Tông Trần Cảnh, nhưng thực chất là con Trần Liễu ( như chúng ta đều đã biết). Kiện hàng giặc, được giặc phong làm tướng tiên phong , giao tranh trận đầu và đánh thắng Trần Quang Khải, Tắc ghi là Kiện chém quân Khải hàng ngàn người. Tắc theo Kiện, vì thế mà thành sử gia giặc. Cái hay của Tắc là nhiều việc ghi tại trận, nên cho ta sự kiện có thể chính xác hơn Ngô Sĩ Liên, khoảng 200 năm sau, ghi trong Đại Việt Sử kí toàn thư (ĐVSKTT). Tuệ Trung Thượng sĩ (Trần Tung ) là anh ruột Trần Quốc Tuấn, bác ruột Trần Quốc Tảng, chứ không phải Quốc Tảng. Quốc Tảng là con thứ 3 chứ không phải là “con cả của Hưng Đạo”. Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung , là anh ruột vợ vua Thánh Tông, tu Phật tại gia từ năm 13 tuổi, không phải Quốc Tảng tự đặt hiệu cho mình. Và bài "Phóng cuồng ca" là sáng tác của Tuệ Trung thượng sĩ ( mà vua Trần không ghi tên húy là Tung) 1 trong 49 bài thơ của Tuệ Trung mà vua Trần Nhân Tông chép trong “Tuệ Trung thượng sĩ hành trạng” lưu truyền hằng mấy trăm năm trong nhà chùa, cùng với nhiều sách Phật. Bùi Huy Bích, cũng như nhiều nhà nho nghiêm túc khác, không đọc sách Phật in ấn và lưu hành trong nhà chùa, nên đã không biết điều rất đơn giản ấy. Hơn nữa từ cuối Trần sang Lê, nhiều nho gia bài Phật.Vua Nghệ Tông thời Trần rất tích cực bài Phật, đã đưa Trương Hán Siêu vào phối thờ ở Văn Miếu, vì Siêu bài Phật, như ĐVSKTT đã ghi. Chỉ có thế thôi. Do Bùi Huy Bích không đọc sách Phật, không biết việc đó, nên đã đồng nhất cháu ruột Quốc Tảng với bác ruột Tuệ Trung, thành một người. Và điều này để lại di hại 200 năm, từ 1825 đến tận hôm nay (2026), vẫn chưa gỡ ra xong, nhất là ở Quảng Ninh. Vì Trần Quốc Tảng là thần chủ đền Cửa Ông, ngôi đền nổi tiếng nhất và đông khách chiêm bái nhất ở Quảng Ninh hiện nay, ngang với chùa Ba Vàng mươi năm trước.

Bùi Huy Bích có tín nhiệm rất cao ở đương thời và các đời sau, vì thế các nhà nghiên cứu các đời sau, vì quá tin ông, đã lấy luôn các ý kiến sai lầm của ông làm thành các giá trị khoa học. Gần đây nhất, Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm, người được coi là đứng đầu trong 4 nhà sử học danh giá nhất Việt Nam (Lâm, Lê, Tấn, Vượng), trong "Từ điển danh nhân văn hóa, dùng trong nhà trường" (Nxb Giáo dục, 2005, trang 437), GS Đinh Xuân Lâm (với sự cộng tác của GS Trương Hữu Quýnh) đã ghi như Bùi Huy Bích đã ghi: "Phóng cuồng ca" là sáng tác của Trần Quốc Tảng. Nếu chỉ đến thế thôi, thì chỉ là chuyện bản quyền văn chương. Đằng này nó còn đi xa hơn, ngoài ý tưởng của các thầy từ Bùi Huy Bích đến Đinh Xuân Lâm.

Bác ruột là Trần Tung được vua Trần phong chức là Tiết độ sứ, phong tước là Hưng Ninh vương ( 1251) , cháu ruột là Trần Quốc Tảng cũng được phong chức là Tiết độ sứ, phong tước là Hưng Nhượng vương, sau 37 năm ( 1289) . Cùng họ Trần trong một gia đình, cùng tên chức ( Tiết độ sứ) , chỉ có tên tước là khác nhau 1 chữ, Hưng Ninh và Hưng Nhượng, có lẽ là lí do dễ gây nhầm lẫn chăng? Còn đất phong cho 2 vị vương này, thì Trần Quốc Tảng không thấy ghi ở đâu (có lẽ vì ông đã được phong đại vương khi tại vị, anh ruột vợ Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, bố vợ vua đương chức Trần Anh Tông, nên ông ở luôn kinh đô, cạnh vua cha, vua con, do đó không cần đất ngoại trấn phong cho ông nữa). Còn Trần Tung thì được phong đất ở Tĩnh Bang, nhưng không ghi Tĩnh Bang là ở đâu, kể cả sách đã nói trên của vua Trần Nhân Tông. Theo các tác giả bộ sách đồ sộ: "Một ngàn năm thơ Thăng Long - Hà Nội", mà chủ biên tập I, là nhà Hán Nôm học rất nổi tiếng: Nguyễn Huệ Chi, thì Tĩnh Bang, nay là vùng đất chùa Linh Sơn, xã Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng. Khi chưa có đơn vị hành chính là Hải Phòng, thì huyện Thủy Nguyên thuộc tỉnh Quảng Yên, tức tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Vì thuộc tỉnh Quảng Ninh, nên Tĩnh Bang ở Quảng Ninh thì suy ra, là ở Cửa Ông bây giờ.

Lại có truyền thuyết dân gian, rất phổ biến, đến mức ai cũng biết, vì nó có trong sách giao khoa vài chục năm - không biết ai là người đầu tiên bịa ra, là Quốc Tảng bị cha đày ải về Cửa Ông hiện nay, nơi mà Phan Phu Tiên, bạn thân của Nguyễn Trãi, ghi ở thời Nguyễn Trãi ( thời Lê, trước năm 1442), là “ không một ai bị đày xuống đây mà còn sống để về được ”. Riêng Quốc Tảng thì không, ông vẫn sống đến 571 năm sau ( 1313 – 1884). Bằng chứng là năm 1884, ông vẫn còn sống và được “vua Trần phong tướng về trấn ải ở cảng Cửa Ông” để thu thuế của Pháp đưa than khai thác từ đây về Pháp quốc, như sách giáo khoa lịch sử nhiều năm đã dạy và học trong nhà trường (?). Tôi là người đầu tiên phê phán và chế riễu việc này, nên khoảng 10 năm sau, sách giáo khoa đã bỏ bài, nhưng ai đã học thì không quên. Gần đây, tôi đã viết bài đăng báo – sau đó in sách - phê bình một nhà văn nổi tiếng ở Hà Nội về việc đó.

Con đường dẫn dắt sai lầm là như thế, thực đơn giản. Vì Trần Tung là Trần Quốc Tảng, Tĩnh Bang là của Trần Quốc Tảng, mà Tĩnh Bang bị coi là Cửa Ông bây giờ, nên Trần Quốc Tảng nghiễm nhiên thành người sống ở Cửa Ông từ thời Trần. Từ đó, các sách địa phương ở Quảng Ninh in trước, Hà Nội in sau, trong vài chục năm nay, căn cứ vào tiền đề nhầm lẫn đó, đã hoàn thành một lịch trình sai lầm rất hệ thống, rất bài bản, và ai không có tri thức khoa học lịch sử cụ thể của vùng đất này, sẽ tin ngay. Đó là Trần Quốc Tảng được phong đất ở Cửa Ông, đóng quân ở Cửa Ông ( hiện nay) từ thời Trần. Chúng ta đều biết, trên bản đồ vùng Cẩm Phả do người Pháp lập năm 1888 ( mà tôi có bản sao để trên bàn làm việc, do Bí thư huyện ủy Tiên Yên tặng, đã có tên xã Cẩm Phả thuộc châu Tiên Yên năm 1888, nhưng năm đó ( 1888) còn chưa có tên Cửa Ông). Rồi từ Cửa Ông mà dẫn quân đánh ngược nước ở ngoài hàng cọc Bạch Đằng vào trận Bạch Đằng lịch sử năm 1288 ( dù trong trận Bạch Đẳng, chỉ có đánh xuôi khi nước triều rút, không có đánh ngược nước từ ngoài hàng cọc vào sau hàng cọc). Rồi ông mất ở Cửa Ông năm 1313, mộ cỏ không biết có từ bao giờ, nhưng lăng thì mới xây như hiện nay, năm 1994. Tôi có trực tiếp hỏi người kí văn bản này. Ông hiện còn sống. Ông vui vẻ bảo : “ Nó đưa tao kí thì tao kí, chứ tao có biết cái mả mẹ nó là cái gì”(!) Cảm ơn ông, một người trung thực và chân thành.

ĐVSKTT ghi năm Quốc Tảng mất ( 1313), nhưng không ghi ông mất ở đâu, chắc là ở Thăng Long ( dĩ nhiên rồi) , nên không cần ghi chăng ? Cũng theo ĐVSKTT, Trần Quốc Tảng suốt cuộc đời mình, chưa hề đặt chân đến vùng đất từ Đông Triều ra đến vùng Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái bây giờ. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 và thứ 3, ông cùng cha và các anh em, đánh giặc ở mặt trận trung tâm từ Hải Dương, Kinh Bắc đến Lạng Sơn, chặn kị binh, đạo quân xâm lăng mạnh nhất của giặc đánh thẳng vào Thăng Long, do chủ tướng giặc Thái tử sẽ nối ngôi vua Nguyên, Trấn Nam vương Thoát Hoan chỉ huy . Thời Trần, vùng biển đảo và biên cương Đông Bắc, vua Trần đã “giao hết” cho Trần Khánh Dư từ năm 1282 ( ĐVSKTT, tập II, Nxb Khoa học xã hội, tháng 7/ 1967, trang 58, dòng 11 -12 từ trên xuống).Thời Trần theo chế độ phân quyền, đất đã phong cho vương này, vương khác không đến đóng quân được. Nên nhớ Quốc Tảng mất năm 1313, Khánh Dư còn sống ở Quảng Ninh đến 26 năm sau, mất năm 1339. Hơn nữa, từ thượng cổ đến nay, giặc xâm lăng phương Bắc chưa bao giờ đánh vào Thăng Long để thôn tính Việt Nam qua đường bộ Quảng Ninh, vì không có đường (trước năm 1888, người từ Cẩm Phả ra Móng Cái vẫn phải đi bằng thuyền), hơn nữa, đường Móng Cái - Thăng Long dài gấp 2 lần đường thẳng Lạng Sơn – Thăng Long), lại luôn bị sông rộng, suối lớn chia cắt. Chỉ có con đường thủy duy nhất từ cửa biển Móng Cái qua Vân Đồn vào cửa Bạch Đằng, đã có Khánh Dư trấn giữ, đóng đại bản doanh ở “ Đồn sơn lục thủy dương” ( vùng nước biển rộng và xanh ở núi Đồn) như Nguyên sử ( Sử nhà Nguyên ) đã ghi, để phòng chống thủy binh giặc, nay là vùng biển đảo Quan Lạn, thế là đủ rồi.

( Lại một điều nữa, sử gia nhà Nguyễn khi chuyển ĐVSKTT từ chữ Hán sang chữ Việt , căn cứ vào 3 chữ “lục thủy dương” của sử nhà Nguyên: “Đồn sơn lục thủy dương”, đã ghi chú lục thủy là sông Cửa Lục - Bãi Cháy bây giờ. Tôi đã vài lần nói không có chuyện đó (1). Nhưng một số người vẫn nhầm, cho rằng, thuyền lương Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư đánh từ Vân Đồn rồi bị đốt cháy ở Bãi Cháy - Cửa Lục, trong sử ghi là trận Vân Đồn - Cửa Lục ( ? ) ).

Giặc mạnh, dùng kị binh là chính, Trần Quốc Tuấn và anh ruột ( Trần Tung ) cùng các con ruột ( nổi bật là Trần Quốc Nghiễn ( đóng quân ở Bắc Ninh ) và Quốc Tảng (đóng quân ở Hải Dương) cùng con rể Phạm Ngũ Lão (đóng quân ở Nam ải Chi Lăng – Năm 2024, tôi đã đi khảo sát quanh ải Chi Lăng, có đến 6 đền / đình/ miếu ở các làng xã xung quanh, thờ Ngũ Lão), tập trung chủ yếu vào tuyến đường hiểm yếu số 1 này, chống chọi sinh tử với đại quân kị ( ngựa) của giặc Nguyên, do Thái tử tiết chế ( Tổng Tư lệnh toàn cuộc xâm lăng) là Trần Nam vương Thoát Hoan chỉ huy. Đất Cửa Ông hiện nay- thời ấy đã giao cho Nhân Huệ vương Khánh Dư trấn giữ, Quốc Tảng đến đó làm gì và theo binh pháp, không thể cướp đất ở đó để đóng quân được ( trừ có âm mưu cát cứ để khởi nghĩa chống lại vua Trần và cha mình là Tổng Tiết chế quân đội).

Nhân đây, xin nói thêm. Ta thường nói Trần Hưng Đạo chỉ huy cả 3 lần đánh thắng quân Nguyên là sai. Ông chỉ là Tiết chế Quốc công, lúc giặc Nguyên đã áp sát biên giới ( cuối 1284 – đầu 1285 - sau hội nghị Bình Than, năm 1282). Có thể thấy, vua Trần rất cẩn trọng cân nhắc khi giao việc, cũng vẫn còn chút nghĩ ngợi về lời hứa của ông với cha, lúc ông vuốt mắt cho cha – Trần Liễu – từ trần. Ông chỉ chỉ huy cuộc kháng chiến lần 2 ( 1285) và lần 3 ( 1288) . Lần đầu ( 1258), cùng với vua Trần, chỉ huy các tướng lĩnh là Trần Thủ Độ, không phải Trần Quốc Tuấn. Thủ Độ có một câu nói rất nổi tiếng mà cả nước từ xưa đến nay, đều nhớ, khi vua Trần hỏi có thắng giặc được không ? “ Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Có người còn gán câu nói đó cho Trần Quốc Tuấn (?). Trần Thủ Độ, người đã định chém Trần Liễu trên sông Cái khi cuộc nổi loạn nhằm dành lại ngôi vua, thất bại, nếu Trần Cảnh không kịp ngăn cản. Ông không những không tin mà còn rất cảnh giác với Quốc Tuấn, vì vài năm trước (từ 1251), Quốc Tuấn đã vâng lời cha là phải cướp ngôi nhà Trần mà dành lại thiên hạ. Ai cũng biết điều đó, khi ông vâng lời cha mà vuốt mắt cho cha đi...

Tháng 10 năm Quý Sửu (1913) – nhiều năm gần đây, người ta bỏ 1913 - chỉ còn Quý Sửu, để hiểu năm đó, có thể ở thời Trần (?), miếu dưới chân núi Bài Thơ (nay là đền Trần Quốc Nghiễn ở trung tâm phường Hồng Gai), nơi có cái giếng nước ngọt ở giữa biển, đoàn thuyền ông Trần Đức Thuật lấy nước ở giếng này lên dùng, khi thuyền đi từ Bắc Ninh, hay về từ Móng Cái – dừng lại ở đây – trong bóng núi Bài Thơ - ) được ông Trần Đức Thuật, chủ hội thuyền buôn đường biển Bắc Ninh – Móng Cái “xây lại trong 1 ngày”, để đưa Trần Quốc Nghiễn, người đóng quân ở Bắc Ninh, quê hương ông Thuật, thời Trần, vào thờ ở đây, khi ấy còn ở giữa biển “trời nước hoang vu” như bia đá, ông Thuật đã ghi, hiện còn đặt trước cửa đền. Vì Hòn Gai thờ anh ( Trần Quốc Nghiễn ) năm 1913, nên năm 1916, đền Cửa Ông được viên quan ba mật thám Pháp, đồng thời là chủ mỏ than Cẩm Phả, cấp tiền cho vợ xây lại ở địa điểm hiện nay (bà này họ Trần, người Hà Đông), phế bỏ luôn Hoàng Cần, vị thần truyền thuyết, thần chủ duy nhất của ngôi miếu này, và đưa Trần Quốc Tảng ( em ruột Trần Quốc Nghiễn) vào thờ. Vì Cẩm Phả đã thờ Trần Quốc Tảng năm 1916, do đó ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2 (1917) đền / chùa Xã Tắc ở Móng Cái mới đưa tiếp Trần Quốc Tảng vào phối thờ vọng. Sắc của vua nhà Nguyễn và bia đá thời Nguyễn còn ghi rành rành như thế. Vậy mà sách và báo của ta vài chục năm gần đây, cứ ghi là Trần Quốc Tảng đóng quân ở đây, chết ở đây và ở đây có đền thờ, có lăng mộ ông từ thời Trần. Đi xa hơn, Ban tổ chức Hội đền Cửa Ông và nhóm làm phim truyền hình còn ca ngợi công lao của Trần Quốc Tảng đã đánh chìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở cửa biển Vân Đồn, làm cho quân Nguyên phải rút chạy. Đây là lí do để đưa tượng Trần Quốc Tảng từ bãi than dưới chân núi lên đỉnh núi nhìn ra biển Đông – vốn là chiến công nổi tiếng bậc nhất của Vân Đồn Phó tướng Trần Khánh Dư, mà người Việt Nam không mấy ai không biết. Đại khái cứ thế rồi tưởng tượng nhân rộng thêm ra… như trận đánh du kích của Trần Tung ở chợ Đông Hồ ( theo ghi chép của Lê Tắc - phía Tây sông Cầm - tiền thân của chợ Cột bây giờ ), ngày đánh phục kích, đêm quấy rối giặc, phá hủy cầu qua sông Cầm, buộc quân Nguyên do Trình Bằng ( sử gia giặc chỉ ghi Trình Bằng, không có chữ Phi – Trình Bằng Phi - như ta đã ghi ) và Ta – tru, dẫn đầu (ngày 3/3 năm Mậu Tuất - 1288) phải theo đường tắt trở về, kịp gặp quân Thoát Hoan, lúc ấy đã rút chạy đến Bắc Giang, rồi cùng rút chạy về nước. Do đó mà trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng mới được tiến hành trong bí mật, để khi nước rút, xô thuyền giặc vào bãi cọc mà tiêu diệt, 5 ngày sau, ngày 8/ 3 năm Mậu Tuất (tức 9/ 4/ 1288 - theo "An Nam chí lược" của Lê Tắc) … cũng được ngợi ca là của Trần Quốc Tảng và cuộc chiến đấu này được dựng thành phim với 2 đạo quân kị binh nhà nghề, vó ngựa phi rung mặt đất, với các thước phim giáp chiến rất ác liệt, cóp nguyên xi ra, từ trường trận kị binh trong phim “ Tam quốc chí diễn nghĩa” của Trung Quốc.

Năm 1910, trong tập truyền thuyết dân gian thời Nguyễn (truyền thuyết dân gian thì không phải là lịch sử) "Trần triều hiển thánh chính kinh tập biên", có ghi việc một ông chở gỗ trên sông Thái Bình, đến chỗ Bến Hàn ngày nay (lúc ấy là thôn Trắc Châu xã An Châu huyện Thanh Lâm, sau thuộc huyện Nam Sách, rồi phần đất này của huyện Nam Sách gần đây nhập vào TP Hải Dương ) thì bè gỗ bị ngừng lại, không sao di chuyển được. Đêm ấy, ông chở gỗ ngủ trên bè gỗ, nằm mơ, thấy một vị tướng hiện lên , nói rằng: Ta là Hưng Nhượng vương, xưa đóng quân ở đây, giờ ta để lại ở đây mấy thứ làm kỉ niệm, đó là cái mũ đá và cái phiến đá. Sáng sau, ông chở gỗ lặn xuống xem, thì quả có thế, có cái mũ đá, cái phiến đá đo được chiều dài phiến đá “dài 6 thước 4 tấc, rộng 2 thước 3 tấc”. Tập "Truyện cổ dân gian Nam Sách" của Nguyễn Hữu Phách và Nguyễn Văn Đức đã xuất bản, cũng ghi như vậy. Cái mũ và cái phiến đá trong chuyện dân gian đó, được cho là của Trần Quốc Tảng để lại, theo bài báo của tôi, Bảo tàng Hải Dương đã tìm thấy ở làng Trắc Châu huyện Thanh Lâm, thì người viết sự tích đền Cửa Ông và nhóm làm phim về Danh tướng Trần Quốc Tảng, lại khẳng định luôn rằng, làng Trắc Châu huyện Thanh Lâm ( thuộc TP Hải Dương) nay chính là phường Cẩm Phú, Cửa Ông (thuộc TP Cẩm Phả) Quảng Ninh (1). Nếu không đọc bằng mắt, không nghe bằng tai mình, thì không ai có thần kinh bình thường, lại tin được điều đó là có thật ( lạ thay ! ). Rồi con gái Trần Quốc Tảng, khi còn là một “cô bé” cũng đã ra “trấn giữ biển Đông” (?!) như văn bản tuyên truyền giữa tháng 3 năm 2018, trong Lễ hội đền Cửa Ông - Cặp Tiên, khi di tích này được công nhận là di tích Quốc gia Đặc biệt. Khi biết cha uất ức đã treo cổ tự tử, cô cũng nhảy xuống giếng trong đền tự tử ( ? ), và ngôi đền Quan Chánh, thờ một ông Chánh nào đó ở thời Nguyễn, được coi là Đền Cô bé Cửa Suốt – cô bé con Trần Quốc Tảng - cặp đôi với đền Cửa Ông trong hồ sơ Di tích Quốc gia Đặc biệt. Một lần khai hội, còn thực hiện một nghi lễ mới, là múc nước giếng của Cô bé Cửa Suốt để thờ trong Lễ hội, và một số người, còn lấy nước, múc từ giếng này lên, mang về nhà mình, để thờ ( lạy Chúa tôi ! ). Nếu không nghe bằng tai, không nhìn bằng mắt, thì không ai tin được những điều đó là những bịa tạc động trời, của đám, mà từ năm 1991, tôi đã gọi là sử thổ phỉ.

Tôi đã nghiên cứu những điều này từ năm 1963 - 1968 khi còn dạy sử trong trường phổ thông ở Quảng Ninh, rồi từ sau 1970, tôi đã đi về đây nhiều lần, có lần được ủy nhiệm đưa Đoàn Nghiên cứu Lịch sử của Bộ Quốc phòng về khảo sát thực tế đền Cửa Ông - đến nay đã non 60 năm và khoảng 20 – 30 năm trở lại đây, tôi đã viết nhiều bài báo đăng ở một số báo từ Hà Nội đến TP Hồ Chí Minh, rồi tập hợp trong 2 tập sách "Thời gian lên tiếng" và "Đi tìm sự thật", đã xuất bản, được các nhà khoa học ghi nhận và nhiều bạn đọc hoan nghênh, đã được tặng Giải thưởng Đào Tấn về Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Dân tộc. Sách vừa được tái bản trong hệ thống sách “ vì sự nghiệp Cách mạng của Đảng”. Một số bài báo của một vài nhà nghiên cứu đưa ra gần đây, có bài viết đại khái như lập luận của tôi, trong đó có trận phục kích theo kiểu đánh du kích của Trần Tung tại chợ Đông Hồ ( Đông Triều ) và tầm quan trọng của nó đối với trận Bạch Đằng mà tôi đã nói ở trên, nhưng không ghi xuất xứ. Chỉ có 1 người duy nhất là ông Nguyễn Trần Trương, nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử - rất ôn hòa - ở Uông Bí, ghi chú là những ý kiến này, lấy ra từ bài viết của nhà thơ Trần Nhuận Minh.

Tôi xin nói lại: Việc thờ Trần Quốc Tảng ở Cửa Ông ( từ 1916 ), ở Móng Cái ( từ 1917), là rất hợp lòng người, hợp ý trời, rất được ghi nhận và hoan nghênh, nhất là của chính quyền địa phương và Ban tổ chức Lễ hội. Vì ông là Anh hùng dân tộc, trên đất nước ta thờ ông ở nơi nào cũng được, như Trần Quốc Tuấn được thờ ở TP Hồ Chí Minh, nhưng không ai nói Trần Quốc Tuấn đã đóng quân ở đây, rồi chết ở đây ( như ta) . Di tích lớn nói trên, đâu có vì thế mà giảm vị thế, tín nhiệm và lòng trân trọng của nhân dân khi chiêm bái vị nhân thần mà mình tôn kính thờ phụng. Và chỉ có từ sự chân thực lịch sử, mới có tác dụng giáo dục tích cực về lòng trung thực và chủ nghĩa yêu nước, cho tất cả mọi người, đặc biệt là các thế hệ trẻ.

Bắt nguồn từ một bài thơ, mà lịch sử một vùng đất, nhầm lẫn đã 200 năm ( 2026 – 1825), vẫn chưa có hồi kết dứt khoát, cũng là một điều rất lạ. Rất lạ !

---------------------

(1) Xin đọc lại trong “Thời gian lên tiếng”, Nxb Hội Nhà văn, tái bản 2025