Cuối cùng tôi cũng đọc xong hệ sinh thái Trường ca Đỗ Quyên. Cảm nhận đọng lại bỗng trái ngược với lần đọc Quần-Đảo-Tráo-Tên*) - trường ca mới nhất, nhưng lại là trường ca đầu tiên tôi tiếp cận. Hóa ra nó không đến nỗi khó đọc, mà còn thú vị. Chỉ cần chạm được nhịp điệu sẽ thăng hoa cùng tri thức, cảm xúc quấn quýt như một câu lục bát để đời trong trường ca, thậm chí ở một chữ thơ Đỗ Quyên.
“Tại trang giấy trắng gọi hồn/bao nhiêu câu chữ cùng chôn cũng vừa.” (Tại sao thơ? - Thơ Thời gian)
Và lồ lộ ở đó một nghiệp thi nhân, một nghiệp người.
Nghiệp thi nhân
Nghiệp thi nhân của Đỗ Quyên có gì? Có trường ca. Khó là ở chỗ trường ca có gì, muốn gì, ở đâu, về đâu.
Khát vọng trường - ca - thác
Sở hữu 18 trường ca trong khoảng thời gian từ 1997 - 2024, Đỗ Quyên đã tạo ra một hệ sinh thái trường ca đồ sộ nhất với tư cách một thi nhân văn chương Việt. Nhưng điều đáng nói đầu tiên là Đỗ Quyên dốc tâm làm mới quan niệm về trường ca.
Thừa nhận dòng chảy trường ca truyền thống gắn với vận mệnh, sự tồn vong quốc gia dân tộc, thời đại trong những thời khắc lịch sử; Đỗ Quyên trình làng các dòng chảy cảm xúc muôn màu của con người về sự sống, tình yêu, nỗi buồn, về nghiệp thi nhân, về đất trời, về biển, về thời gian, về con chữ…
Với những Lòng hải lý (1997), Đống chữ (1999), Buồn muộn cùng thế kỷ (2000), Bài thơ không thuộc về ai (2000), Biển đỡ (2002), Ba người nữ một mùa thu (2003), Trường ca Thơ Sao (2009), Trường ca Tình ái, Trường ca Thơ (hai tập độc lập trong Trường ca song sinh 2010), Trăm thi điệu (2011), Sách xanh (2014), Tổ quốc Nhật ký (2017), Cabo mặt trời bình minh (2023), Quần-đảo-tráo-tên (2024)… - Lần đầu tiên trường ca Việt về vận mệnh quốc gia, dân tộc, vận mệnh con người, thời đại, vận mệnh thơ thăng trầm bên nhau theo dòng thời gian, không gian bất tận. Lần đầu tiên, tình yêu, cơ thể con người, thơ ca, thời gian, nỗi buồn, mùa thu, trở thành đồng đối tượng của trường ca. Tổ quốc, quần đảo, tình ái, cái chết, con chữ, thi pháp, bài thơ, thi nhân, văn chương, rừng cây, mặt biển - tất cả liên kết với nhau như một trường-ca-thác mang tên Đỗ Quyền ào ạt chảy suốt 25 năm qua.
Một trong những điểm gắn kết đẹp đẽ chói sáng nhất trong hệ sinh thái trường ca đó, là sự si tình của thi nhân với thơ. Đỗ Quyên không chỉ tôn thờ, chiêm bái, khám phá mà còn sáng tạo để Nàng thơ trở nên tuyệt phẩm.
Bằng sự chân thực và sự tưởng tượng, thơ là phương tiện duy nhất nhìn ra sự vô lường của thời gian; có tính vô địch, vô định, bảo toàn và quyết định. Đó là tuyên ngôn về bản chất thơ của Đỗ Quyên.
Theo cách nói của Đỗ Quyên, Thơ “chơi” được với Thời gian bởi nó nhìn ra độ tàn khốc và tính thực tiễn, sự lạnh lùng và niềm vô tư, mặt sát hại và hướng tái sinh, tính bất định và độ chính xác. Thơ không bị phá hủy bởi những đứa con hư của nền Văn minh mà Thời gian từng làm bà đỡ. Thơ không có địch thủ, kể cả với chính mình vì bản chất, thi đàn không phải là một trường đấu; thơ không đầu hàng, không chiến thắng - “Không câu thơ nào được viết ra để hóa thành võ sĩ”. Thơ quyết đoán hơn cả kinh thánh, hơn cả lời lãnh tụ, ý vua chúa. Thơ không cưỡng bức ai cúi đầu, không nô lệ. Nhân tính thi ca là cho tất cả, cảm nhận tất cả; là hiện thực hư ảo qua ngôn ngữ và cái hư ảo của hiện thực qua chữ nghĩa đến từ cuộc đời hay đâu đó.
Thơ đẹp như vậy, thi nhân cũng phải sánh được với Nàng. Là kẻ song hành hai quốc gia thi ca và công dân; thi nhân sống bằng hồn thơ chết với lòng thơ, chăm bón vườn thơ bằng máu thịt mình, nuôi dạy con chữ cái nghĩa lớn, để làm điều không tưởng “soi nến tìm mặt trăng ban ngày gối đầu lên mặt trời mỗi đêm”. Là người giàu có theo giá trị thời thơ, xấu đẹp trên nhan sắc trang thơ. Người bay nhờ từ ngữ và cảm xúc, ưa làm ra cái chưa ai có theo cách chưa ai biết bằng những thứ đã có với một kiểu riêng; ít nhất nên làm được một bài thơ của chính mình và nhiều nhất được làm bài thơ của đời.
Tuân theo sự cao đẹp của nghiệp thi nhân, ông trình làng “cái tôi của đệ nhất thơ” trong sự “giao hợp Tàu ta Tây tân cổ”. Mời những Joseph Brodsky, Tô Đông Pha, Chế Lan Viên, Saint John Perse, Czeslaw Milosz chủ tọa hội thảo về những người làm thơ về thơ, ông cho rằng những ai làm thơ về thơ là một lần sám hối, thoát một lần tự tử, biết một lần cô đơn vượt cạn, được tắm thêm một lần trên một dòng sông - “nước chảy đi bóng hình chảy lại”/“nhặt thêm một vàng lá rụng/thả về xanh thân cây”.
“Thơ của thơ/Sự thủ dâm vĩ đại lành mạnh/Và lành mạnh vĩ đại /Trong một hạnh phúc đơn”. (Thơ về thơ - Thơ Thời gian)
Nắm chặt Thi Thánh
“Mọi thứ trên đời đều là thơ” như Đỗ Phủ, Chekhov thường nói, Đỗ Quyên nhìn đời bằng cặp mắt thi nhân. Từ ngôi nhà cha mẹ thuở ấu thơ, ngôi nhà riêng bé nhỏ xứ người (với tất cả cửa sổ, cầu thang, sofa, tách cafe sáng, cái cầu trượt, hàng rào, dây điện, cây thông có ngọn, cụt ngọn, bụi đỗ quyên, khóm hồng ngủ đông, một nụ hoa tím tái chưa nở, bàn văn, thùng rác…), đến nóc nhà, mảnh trăng hàng xóm, các nẻo đường, ngã ba ngã bảy, cánh rừng, đại dương, mặt đất, bầu trời, từ một chiếc lá vàng đến cả một mùa thu, từ nụ hôn dang dở, hơi thở, tiếng hét yêu thương, bàn tay 4 ngón 6 ngón, đến trái tim, đến cái chết… - tất cả đều thơ theo một cách rất riêng với tất cả vô vàn tầng nấc, cung bậc cảm xúc. Khó mà chỉ ra được đâu là câu thơ, bài thơ hay nhất trong muôn vàn câu thơ, khúc thơ ăm ắp trường ca!
“Nếu tuyết có tim/tuyết sẽ có máu/Tuyết có máu thì máu sẽ chảy/khi mùa xuân về/em không còn trong tim anh nữa/tim tuyết ở đâu/mà dưới thân anh tuyết tan ngập đỏ.” (Máu tuyết - Thơ Sao)
Đỗ Quyên rành mạch hành vi thơ, nỗi đau đáu tìm ra chủ ngữ vị ngữ cho từng câu thơ, đoạn thơ, bài thơ; từng dấu phẩy, dấu chấm, xuống hàng. Kể lể không sót kỹ nghệ thơ từ ý tưởng đến thực hành, từ sự cãi cọ của câu chữ, sự lỡ nhịp cần thiết, nỗi đau bài thơ dang dở, câu thơ khóc, câu thơ tự sát, bài thơ tự vặn cổ mình… Từ đó kết luận, đối với thơ, thi điệu là tối thượng, là linh hồn thơ, khiến con chữ của mỗi thi nhân đều mang ấn triện riêng, không nhạt nhòa trộn lẫn.
Giữ chắc dây cương nhịp điệu
Ôm mộng khai sinh “Bộ môn Văn-chương-phỏng-sinh-học”, Đỗ Quyên chọn “em”, chọn tình yêu, chọn làm tình - cội nguồn khoái cảm sinh sôi loài người sánh với linh hồn thơ là thi điệu.
“Bài thơ không nhịp điệu hai lần không tồn tại/Lần trong thơ/Lần ở cuộc đời.”
Minh chứng điều này, Đỗ Quyên viện dẫn Truyện Kiều có tới 52 dị bản trong tay nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Bảo cùng với lời bàn về sự cách biệt tới 48% về câu, 10% về chữ giữa các dị bản của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn. Nhưng nhờ chỉ mang một thi điệu Nguyễn Du, Truyện Kiều vẫn thiên thu kiệt tác.
Đỗ Quyến kéo cả Tomas Tranströmer vào cuộc. “Thi sĩ không thấy trong ngón tay nào của mình có các hình tượng siêu thực Bắc Âu/Tomas từng đầy hai bàn tay trước khi đột quỵ/ Ông - chắc chắn - cũng không có ở lóng tay nào bản sắc tộc Việt/Thi sĩ chất vòng theo các vân tay/Chỉ có thể đọ nhau bằng Thi điệu/xem ai vừa thắng giải Nobel.” (Trăm thi điệu)
Sáng rõ “Nhạc bên ngoài thơ/anh có được từ em/Nhạc trong thơ thi sĩ nhận từ tình ái”, Đỗ Quyên cảnh báo lấy Thi điệu làm phong cách, là chấp nhận sự khe khắt. Phải nghe rất nhiều, yêu rất nhiều, mới hiểu được ngôn từ của nhịp điệu. Phải phân biệt được hương và sắc trong thơ, mới có thể “nắm được dây cương nhịp điệu” từ “hơi thở trong ngực tình nhân lưu động”. Bù lại, Thi nhân được ân hưởng trở thành nhịp điệu.
Nhịp điệu từ hơi thở tình yêu trong các trường ca Thơ sao, Sách xanh, Trăm thi điệu, Biển đỡ, Ba người nữ một mùa thu… dẫn tới sự thăng hoa “thi pháp đại dương” ở trường ca Quần-đảo-tráo-tên. Không dừng lại nhịp điệu đương đại, Quần-đảo-tráo-tên đã phủ tới nền văn hóa dân gian với tục ngữ, thành ngữ, ca dao, mõ làng trào lộng, nôm na mách qué; thi pháp có một không hai của bà Chúa thơ Nôm. Các thể loại từ văn tế, thơ 5 chữ, 7 chữ, thơ đi bộ, đối thoại, phỏng vấn, phản biện, nghị luận, liệt kê, biên niên sử, ngồn ngộn bên nhau chảy; đến mức Đỗ Quyên mượn cả Tam Quốc để… “tiên sư anh thi pháp”!
Chính cái nhịp điệu này làm nên sắc màu mới cho chữ, cho nghĩa, cho các thi nhân không thể lẫn vào nhau, khiến nhiều thi nhân đều là một, là riêng, là thứ nhất theo cách nói của Xuân Diệu.
Chữ không “mù”
Với Đỗ Quyên, chữ không “mù”. Nó “tử hình những cái cũ mèm/hôm qua là mới, /tử hình những cái xa lạ với những cái xa lạ” để tạo ra “Cái đẹp của thi văn xây trên vạn ngàn xác chữ/-Nhất tự công thành vạn tự khô-” (Đống chữ).
Chữ bất khả xâm phạm. Dù con người có thể lạm dụng mọi thứ sức mạnh, thủ đoạn như họng súng, thòng lọng, thuốc độc, thậm chí vàng và tình, nhưng không ai lạm dụng nổi chữ. Chữ vạn năng nhờ gắn liền với thi pháp, với nhịp điệu. Những chữ vốn bình đẳng, trung tính bỗng “thò lò” muôn mặt. Chát chúa khi cần, dịu hiền khi ham muốn, mơ màng khi ảo vọng, trần trụi khi chân thật.
“Tưởng tượng là gốc căn của chữ nghĩa/Chữ biết/Gom ngàn con chữ.” (Đống chữ)
Thậm chí, một chữ vốn bất biến về hình dạng bỗng dưng đa chiều sinh nở. “Hấp hé” núm đồng tiền bội phần vì nể cái “hấp hé” nơi của mình tạo hóa. “Chỗ kín” nơi phòng the người đàn bà bảo toàn văn hiến đến từng sợi tóc, kiêu hãnh trước “chỗ kín” thế gian phơi bày dưới muôn vạn bàn chân, nhưng cũng có thể mơ hồ về “chỗ kín” của thơ. “Mép đầu hai vực sâu” nơi bàn tay chàng bị nàng chặn lại, xiết bao thương tổn giữa “hai đầu vực” nữ ca sĩ hiền thục Hà Thành an nhiên đứng với nụ cười thinh lặng…
Con chữ làm cho những hình ảnh bàng bạc giữa đời bừng lên sắc màu, đa chiều góc cạnh. Mùa thu hút hồn bao thi nhân với những sắc màu không lẫn vào đâu được (chí ít 63 thi nhân danh tiếng có những câu thơ đặc sắc về thu), nhưng Đỗ Quyên vẫn có một “thu đã vàng vạn kiếp không phai”; đến độ “Cả rừng lá đổ đầy sân./Tôi ngồi tôi đếm lá gần lá xa./Thu còn bao nữa thì là./Đông. Rồi em đến. Sân và tuyết rơi.” (Ba người nữ một mùa thu)
Đỗ Quyên kể tới lực-sĩ-từ-ngữ Maiacopxki, cái “sát chữ” dị thường trong cái bình thường của Đà Linh (Sách xanh). Đặc biệt, Đỗ Quyên đã “tông thẳng” vào chữ Trần Dần sau khi ông vụt sáng với giải Thành tựu trọn đời - Hội Nhà văn Hà Nội 2007. Coi Trần Dần là Nhà-cải-cách-quốc-ngữ, hình thái và cú pháp tiếng Việt, nên thơ theo một cách mới - “đồng nhất thơ vào chữ”.
“Thơ nào chữ nào, thơ ai chữ ai”/“Thơ Trần Dần/Chữ Trần Dần/Đâu thể/Thơ Trần Dần/chữ Hoàng Cầm/(thí dụ thế).” (Sách xanh)
Thất kinh giữa thơ-cao-hổ-cốt/thơ-bún-riêu-cua-đồng”, “thơ Trần”, “Thơ Tố”, Đỗ Quyên không cực đoan mà ngả mũ trước điểm giao nhau “hai dòng ngược” - “Thơ Trần Dần nghĩa bự chữ ứ hự” với một Tố Hữu “ứ thèm có chữ” nhưng “ý nhớn tính tình tang”.
Một nghiệp người
Nghiệp người Đỗ Quyên có gì? Có sống chết với thơ. Nhưng sống chết thế nào, sống chết cho ai vì ai mới là điều đáng nói.
Lồ lộ một con người thành thực với thơ, với mình, với nhân gian.
Chiêm bái thơ, Đỗ Quyên yêu xiết bao thi nhân từ ngàn xưa tới nay đã dâng cho đời niềm khát vọng nhân sinh cao cả. Một Hàn Mặc Tử thơ đã đủ, còn thiếu điên điên; một Bùi Giáng thừa điên đem lục bát bước vào hậu hiện đại. Một Nhất Linh tự chết. Một B40 Trần Mạnh Hảo oai hùng. Một Trần Công Lộc với “Mộ gió” Hoàng Sa cháy gan cháy ruột. Một Essenin “chàng hooligan của thi ca đẻ ra nhiều hình tượng cho thơ hơn đẻ con cho hậu thế”. Một Hemingway 1 giải Nobel 4 vợ vẫn thấy mình thuộc về thế hệ lạc lõng. Một Maiacopxki muốn nhảy ra khỏi tường hỏi tội hậu thế hiểu sai vị lai chủ nghĩa…
Kế thừa khát vọng thi nhân, Đỗ Quyên quyết bảo vệ “thơ thật”. Thơ không lạc trên con đường một chiều không tiếng nói, không lặp lại lịch sử, không phải thằng rơm đuổi gà trên cánh đồng văn học, thơ dẫn đường cho loài người. Thậm chí “Câu thơ lẻ còn thông minh hơn cả một tập đoàn thi sĩ”. Bỏ mặc đằng sau tận bút, tận văn, những nhà thơ bỏ chữ chạy lấy người, lấy thịt đè chữ nghĩa, đồng ca tụng ca thân xác xưa, nặn đẻ những đứa con Tân bút mồ côi cả cha lẫn mẹ. Ông nguyện “Ngay khi thơ có mõm/tôi cũng không khóa lại như ở con chó của người phụ nữ lòa.” (Biển đỡ)
“Thi sĩ không làm phụ nữ chạy lại mình thì làm phụ nữ chạy đi/Như Chúa/Thi sĩ không ở giữa.” (Bài thơ không thuộc về ai)
Thành thực với thơ trong tư cách thi nhân, Đỗ Quyên đã thành thực với mình với tư cách công dân. Ngắm nghía, phân tích, phản biện, suy luận, khảo cứu thơ, Đỗ Quyên cũng làm thế với chính mình. Có lẽ cái tâm thế khoa học lượng tử giúp Đỗ Quyên không chỉ nhìn đa chiều về chủ đề, mà từng khái niệm, mệnh đề, lập luận cũng đều được nhìn đa chiều đa dạng. Khiến cho con chữ, bài thơ, chương mục đều phình nở đến tận cùng bản thể. Thơ trên thân thể người nữ, trên ái tình, trên cái chết, trên nỗi buồn, trên dòng hải lý, trên Quần - Đảo - Tráo - Tên, trên Tổ Quốc, trên đống chữ, thời gian, trên đất trời, đều cuộn trào sự chiêm nghiệm về nhân sinh, về nghiệp người. Ở đó, đôi mắt đẹp mỹ nhân “cả rừng câu chữ thi nhân không che hết”. Đàn bà ngồi xổm đái không qua đầu ngọn cỏ những kỷ nguyên đã qua, sẽ ngồi trên ngọn thời gian kỷ nguyên sắp tới. Đàn ông không nguyên chất là hạt giống lang thang gieo ngọn lửa chiến, cơn lốc tình, cơn gió tiền, đợt sóng thơ. Thời gian là sự bình đẳng cuối cùng con người hân hưởng; là sự tự do cuối cùng ràng buộc con người. Thơ trời cho Đỗ Quyên “không là” 140 khái niệm của đời, chỉ là Một thơ của mẹ “ngàn bài thơ viết về người đã là Trường Ca Mẹ”.
Để rồi, Đỗ Quyên nhận ra triết học cao nhất chính là sự thật giản đơn luôn nằm sẵn ở đời, ở mình như một điểm son đẹp và cũng là thứ nhất xuyên suốt trường ca. Như bàn chân không biết nói dối như con mắt. Như “một kẻ có thời gian ở đất đá sẽ có văn chương đất đá/Một kẻ có thời gian ở mây gió sẽ có văn chương mây gió”. Như “thi nhân thứ thiệt thật không cần thầy, - thầy trong văn trong chữ”. Như nụ hôn chết trên môi một người không bao giờ phục sinh được trên những kẻ khác. Như con người luôn đói khát yêu thương. Như nắng thời gian là nắng vĩnh hằng, thơ đời là không gian vạn trượng. Như mặt trời mọc tức là sáng. Như hạnh phúc và bất hạnh là một cặp bài trùng; thi ca và đời sống là cặp tình nhân trọn đời không hôn thú. Như bài thơ thậm hay là bài thơ tuyệt tự, không sinh con đẻ cháu bao giờ…
Đi đến cùng mối tương quan này, Đỗ Quyên nhận thấy những ai không còn của ai, từ ai, thành ai, cho ai, trong ai là những người của tất cả, cho tất cả. Họ đã vượt biên khỏi vách ngăn loài người ngay từ buổi lọt lòng với tiếng khóc tự do. Họ chọn bầu trời không búa, mặt đất không đe, chọn thơ là nơi cuối cùng còn có.
Với Đỗ Quyên, đó còn là tấm lòng khắc khoải quê xa nhưng mãi gần trong từng giọt mồ hôi, giọt máu, giọt lệ đời mình rỏ xuống bài thơ. Là mầm “Ngày về” ủ nơi gan bàn giây phút ly hương lớn dần lên theo những bước đi xa. Là ngọn lửa Sáng soi nơi con mắt không phải lửa thiêu đốt, thiêu hủy “làm bao nhiêu chuyện vá đời” trên chặng đường xa xứ, “soi vật nào sáng vật nấy” nơi quê nhà cố quận. Làm nên một Quần-Đảo-Tráo-Tên với nỗi đau dằng dai chưa khép được; một Nhật Ký Tổ Quốc khắc khoải khôn nguôi; một Cabo mặt trời vắt từ bờ biển Cabo San Lucas về Tổ quốc với bình minh xanh trắng.
Đỗ Quyên không ít lần xác quyết “tất cả từ em, tất cả từ đời”, nhưng chính nhịp điệu cảm nhận của Đỗ Quyên với sự sống, với nghiệp thơ, vận mệnh văn chương mới làm nên sự khác biệt của trường - ca - thác. Cái sự ra đi, cái sự trở về xoay vần con tạo trao cho Đỗ Quyên một tầm khai phóng về sự thật ra ngoài vũ trụ, vào trong lòng người. Đó là sự thật của không gian, thời gian của dòng đời, của dòng thơ, của lòng người, lòng mình trên biến thiên lịch sử.
Thất kinh trước một Trần Dần 30 năm lặng thầm sáng tác không xuất bản vẫn có thể mở ra bước ngoặt văn chương Việt, Đỗ Quyên tiếp tục kiên gan với trường ca Việt dẫu cho thi thoảng mới có người nhắc nhớ về ông như “một hiện tượng trường ca”, một thi nhân đọc nhiều nhất về văn chương Việt, một “cánh chim gieo chữ hai bờ đại dương”…
Có thể Đỗ Quyên tán thán hoặc thầm khóc với Trần Dần. “Tôi không khóc/những chân trời/không/có người bay/lại khóc những người bay/không có chân trời.” (Đống chữ)
Rồi tự nhủ “Có một người không mang số trên tim/Không thấy lạ/Giữa thế giới đã mã hóa…/Người không số là không cần thời gian xếp hạng/Một câu thơ hay là hay ở mọi bài thơ.” (Biển đỡ).
*
Dẫu gì, chúng ta đang có một Đỗ Quyên giã từ hạnh phúc ngắn trên những chuyến đò ngang chữ nghĩa; quyết theo những chuyến đò dọc đến thác đầu ghềnh và những bãi hoang đổ ra biển đời văn chương, để biết thế nào là hạnh phúc của cái chết bất tử.
Hà Nội, mùa Xuân 2026 (7/5)
Nguyễn Nguyên
—------
*) Đã đăng bài giới thiệu trên trang nhà trannhuong.net ngày 27/2/2025
http://trannhuong.net/tin-tuc-57114/quan-dao-bi-trao-ten.vhtm