Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

HỮU LOAN NGƯỜI THƠ BẬN VIỆC LÀM NGƯỜI

Nguyễn Duy
Thứ bẩy ngày 19 tháng 9 năm 2026 3:02 PM


Nhớ, năm 1988,sau khi được "phục hồi" quyền đượcviêt cùng với tư cách tư cách hội viên (sáng lập) Hội Nhà văn VN, "thi sỹ xe thồ" này đã làm cuộc "Nam tiến" bằng xe lửa và xe đạp vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Ông đến thăm tôi và sau đó tôi đã mấy lần về quê thăm ông, tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn. tỉnh Thanh Hóa. Nay tôi rất vui nhận được tin Thanh Hóa vừa đặt tên đường phố HỮU LOAN. Xin chúc mừng tỉnh nhà và gia đình thi sỹ. Nhân sự kiện văn hóa này tôi post lại bài viết về lần đầu gặp gỡ giữa hai người thơ Thanh Hóa tại Sài Gòn, tháng Tám năm 1988.( Bài viết vào dịp tang lễ cụ Tú Loan, 2010, đã được đăng trrên vài tờ báo hồi đó và in trong GHI & NHỚ - tuyển tập bút ký của Nguyễn Duy (nxb Hội Nhà văn).

Ông là nhà thơ đàn anh, người đồng hương xứ Thanh của tôi, nơi nổi tiếng “địa linh, nhân kiệt”. Ông thuộc lọai “nhân kiệt”, không chỉ là “hào kiệt” mà còn là “cùng kiệt”, một thường dân kiệt quệ theo nghĩa đen.

Hồi còn ở quê, Đò Lèn, huyện Hà Trung, giáp với huyện Nga Sơn quê ông, tôi chỉ biết ông qua lời đồn và giai thọai. Cha tôi từng đẩy xe thồ suốt những năm 60 thế kỉ trước, từng quen biết ông Tú Loan, tức nhà thơ Hữu Loan một thời. Có lần cha tôi hỏi, mày đi học có biết thơ của ông xe thồ này không? Tôi nói không, (nhà trường hồi đó không dạy thơ Hữu Loan). Cha tôi nói ông Tú Loan hay chữ lắm, đỗ tú tài Tây, làm quan cách mạng thời khởi nghĩa bốn lăm, thời kháng chiến chống Pháp, tài thơ nổi tiếng, nhưng rồi chỉ vì cái tính ngang tàng, ngang bướng mà bỏ kinh kỳ về làm dân đen sau cơn đại họa Nhân văn nhân viếc gì gì đó, cũng bị bắt chẹt, bị o ép, nghèo đói xơ xác, đi thồ đá, thồ dưa, thồ chiếu, đủ thứ…Cha tôi là dân nhà giàu phá sản sau thời kì “cải tạo kinh tế” dã phải đi đẩy xe thồ quần quật nên rất cảm thông với ông Tú Loan và tỏ vẻ kính nể ông xe thồ này lắm…Cho đến đầu thập niên 70, sau mấy năm làm lính, khi theo học khoa Ngữ-Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi mới được đọc thơ Hữu Loan. Rồi gần hai mươi năm sau mới được gặp ông…

Thành phố Hồ Chí Minh, một ngày thu năm 1988. Tôi đang điều hành cuộc họp cơ quan thường trực phía Nam của tuần báo Văn Nghệ tại trụ sở 43 Đồng Khởi, chợt có người đến tìm gặp, xưng là nhà thơ Hữu Loan, từ quê vào. Lật đật chạy xuống phòng khách, tôi thấy một ông già hom hem, râu tóc lam nham, áo quần xốc xếch, hao hao giống “đười ươi thi sĩ” Bùi Giáng, ngồi co một cẳng lên ghế. Cái cách đó, đích thị Hữu Loan rồi, theo hình dung của tôi. Tôi ôm chầm lấy ông như người quen thân lâu ngày gặp lại. Ông nói tuy chưa gặp tôi nhưng có đọc thơ tôi và rất vui vì xứ Thanh bây giờ có “đứa” làm thơ được như vậy. Ông có thằng con đang làm thợ ở Đồng Nai, vào thăm con, rồi đạp xe đi lang thang thăm những ai mà ông muốn gặp… Tôi xin ông ngồi uống trà, chờ cho tôi kết thúc cuộc họp trong chốc lát. Chừng mươi lăm phút sau, tôi trở lại phòng khách, thấy lão thi sĩ đang nằm thẳng cẳng trên ghế xalông, đầu gối lên cái cặp giả da to đùng, ngáy vang lừng. Chiếc xe đạp lấm láp của ông dựng giữa phòng khách và cạnh đó có đôi dép nhựa sứt quai.

Tôi gọi cho mấy người bạn văn nghệ, những người sùng bái thơ Màu tím hoa sim. Chúng tôi quyết định đãi ông một bữa trưa sao cho ông thích thú. Hồi đó, ở công trường Mê Linh, trước tượng đức Thánh Trần, có một nhà hàng đặc sản, chuyên các món rùa và rắn. Hỏi, ông có sợ món rắn hổ mang bành không, rắn độc đấy. Ông nói rắn đâu có độc bằng người, người độc tau chả sợ, sợ chi rắn độc. Thế là, nhà hàng cho biểu diễn màn múa vờn rắn độc, một con rắn hổ mang cỡ hai kí, ngóc cổ, bành mang, phun khe khè… Sau đó, rượu huyết rắn, mật rắn, quả tim rắn đập thoi thóp trong cái li nhỏ dành cho ông nuốt sống, và các món khác mà ông gọi chung là một bữa tiệc “hùng vĩ”. Tiếp đến tiệc trà. Chúng tôi ngẩn ngơ nghe ông đọc thơ vanh vách, giọng sang sảng. Một bữa tiệc thơ “dữ dội”, những Đèo cả, Màu tím hoa sim, Hoa lúa, … Bài Vè Thanh Hóa “Khu bốn đẩy ra/ khu ba đẩy vào/ muốn chạy sang Lào/ mà Lào không nhận…” là do ông truyền cho tôi bữa đó. Rồi ông kể vắn tắt về những năm tháng ông sống, cả trong kháng chiến, sau hòa bình, và nhất là thời gian cực kì gian nan, lận đận, thiếu quê hương ở ngay chính quê nhà, sau khi ông bỏ Hà Nội về làng. Ngang trái, ngang tàng, mà cũng thật hiên ngang. Một cuộc đời trầm luân, tất tưởi, bận rộn. Chúng tôi hỏi, ông bận việc gì nhất? Ông thản nhiên: “ Bận việc làm người”…

Sau này, tôi đã mấy lần về thăm ông tại quê, chuyện đời, chuyện thơ dài dài lắm, nhưng lần gặp đầu tiên năm 1988 ấy để lại trong tôi ấn tượng mạnh nhất. Cũng sau lần gặp đó, tôi có bài thơ tứ tuyệt tặng:

THƠ TẶNG CỤ TÚ LOAN

Ngang tàng…ngang trái…nghênh ngang

Hồn sim tím một chiều hoang bên đời

Người thơ bận việc làm người

Một mai thánh hóa lên trời làm sao

Sài Gòn, 19.3.2010

N.D