Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

THƠ TRẦN NHƯƠNG VỚI CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI

Nguyễn Việt Chiến
Thứ năm ngày 26 tháng 3 năm 2026 7:28 PM


Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước. Trong số đó, Trần Nhương là một gương mặt đáng chú ý. Tập thơ “Gió bồn chồn Giêng Hai” của ông vừa được Nxb Hội Nhà văn ấn hànhkhông chỉ là một tuyển tập thơ chiến tranh đơn thuần, mà còn là một bản trường ca nhiều tầng về con người, lịch sử và đời sống Việt Nam trong một giai đoạn đặc biệt của thế kỷ XX.

Nhà thơ Trần Nhương sinh năm 1942, quê Lâm Thao, Phú Thọ, năm 1965 nhập ngũ vào ngành vận tại quân sự, năm 1979 học trường viết văn Nguyễn Du khóa I, năm 1987 làm trưởng phòng văn nghệ Nxb Quân đội nhân dân, năm 1993 chuyển sang Hội Nhà văn VN làm Phó Giám đốc quỹ văn học rồi Phóban quản lý dự án Bảo tàng Văn học VN, hiện nghỉ hưu. Ông đã xuất bản hơn 20 tác phẩm thơ và văn xuôi và được trao nhiều giải thưởng văn học của báo Văn Nghệ, Tạp chí VNQĐ, Bộ Quốc phòng, Liên hiệp các Hội VHNT VN.

PHẨM CHẤT THƠ GIÀU CHẤT HIỆN THỰC VÀ NHÂN VĂN

Tập thơ “Gió bồn chồn Giêng Hai” mới xuất bản của Trần Nhương là một chỉnh thể giàu cảm xúc, kết tinh từ trải nghiệm chiến tranh, đời sống lao động và những rung động tinh tế của con người Việt Nam trong những năm tháng nhiều biến động của đất nước. Qua những bài thơ trải dài từ thời kháng chiến chống Mỹ đến giai đoạn sau chiến tranh, tập thơ thể hiện một thế giới nghệ thuật phong phú: vừa hào sảng, bi tráng, vừa trữ tình, sâu lắng. Từ đó, phong cách thơ của Trần Nhương hiện lên với những đặc điểm nổi bật: giàu chất hiện thực, giàu hình tượng, giàu cảm xúc nhân văn và thấm đẫm tinh thần dân tộc.

Đọc “Gió bồn chồn Giêng Hai”, ta bắt gặp những con đường Trường Sơn khói lửa, những cô gái mở đường, những người lính lái xe, những người mẹ, người nông dân, người thợ… Nhưng điều đáng nói hơn cả là cách nhà thơ biến những chi tiết đời thường ấy thành những hình tượng nghệ thuật mang chiều sâu nhân văn. Chính ở điểm này, thơ Trần Nhương vừa mang dáng dấp của thơ chiến tranh vừa vượt ra khỏi giới hạn của thơ chiến tranh thuần túy.

Điểm nổi bật trước hết của tập thơ là cảm hứng lớn về đất nước trong chiến tranh. Trần Nhương không viết chiến tranh bằng giọng điệu bi lụy hay khốc liệt thuần túy, mà bằng một cảm hứng vừa anh hùng cavừa trữ tình. Chiến tranh hiện lên trong thơ ông như một bối cảnh thử thách, nơi vẻ đẹp con người được tỏa sáng.

Trong bài “Vành trăng trên đèo Ba Pông”, hình ảnh cô gái sửa đường trên đỉnh đèo giữa chiến tranh trở thành biểu tượng của vẻ đẹp tuổi trẻ. Giữa không gian hiểm trở của núi rừng, hình ảnh “môi em nở hiện một vành trăng nhỏ” đã nâng cô gái lao động lên tầm biểu tượng. Vành trăng ấy không chỉ là vẻ đẹp của một người con gái mà còn là ánh sáng của niềm tin và hy vọng trong chiến tranh.Những người lính lái xe Trường Sơn cũng hiện lên với vẻ đẹp bình dị mà anh hùng. Trong nhiều bài thơ khác như “Đèo Khỉ”, “Qua cầu phao”, “Ngủ giữa cung đường”, con đường Trường Sơn hiện lên như một không gian thiêng liêng của lịch sử. Đó là nơi bom đạn dữ dội nhưng cũng là nơi nảy sinh tình đồng đội, tình yêu và niềm lạc quan.

Bên cạnh hình tượng người lính, tập thơ còn khắc họa vẻ đẹp của những con người bình dị ở hậu phương. Những cô gái mở đường, người thợ máy bơm, người nông dân, người mẹ… đều trở thành nhân vật trữ tình trung tâm.

Bài “Nắng” là một bức tranh đẹp về hậu phương. Nắng không chỉ là ánh sáng thiên nhiên mà còn là biểu tượng của sự sống và niềm tin. Nắng đi vào hạt lúa, vào bữa cơm, vào tình yêu quê hương. Qua đó, nhà thơ gửi gắm tư tưởng: hậu phương chính là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng tiền tuyến.

THƠ MANG SẮC THÁI TRẦM LẮNG, GIÀU KÝ ỨC ĐỜI SỐNG

Một trong những bài thơ giàu suy tư nhất là “Đất nước những ngày này”. Ở đây, giọng thơ Trần Nhương chuyển sang suy tư lịch sử. Nhà thơ nói với thế hệ tương lai rằng những năm tháng gian khó của đất nước sẽ không thể nhìn thấy bằng “thấu kính tầm xa”, mà phải hiểu bằng thơ ca và ký ức. Đó là một cách khẳng định vai trò của văn học trong việc lưu giữ lịch sử và tinh thần dân tộc với những câu thơ: “Nhưng con không thể nhìn về những ngày này/Bằng thấu kính tầm xa/ Con hãy nhìn vào trang thơ Cha viết/ Đất nước những ngày này/ Bao nghĩa trang chưa đón hết người về/ Bom đã rơi Lạch Trường, Đồng Hới/ Dòng sông nào cũng tiếng bờ nam gọi/Hạt gạo sông Hồng sáng dọc Trường Sơn”

Sau chiến tranh, cảm hứng thơ Trần Nhương mở rộng sang đời sống hòa bình. Những bài như “Hai bờ châu thổ”, “Tâm sự người thợ máy bơm”, “Biên giới mùa xuân” cho thấy một đất nước đang hồi sinh. Con người lao động trở thành trung tâm của thi ca, mang trong mình niềm vui xây dựng cuộc sống mới.

Một nét đặc sắc trong tư tưởng của tập thơ là tình yêu con người. Trần Nhương không miêu tả con người như những biểu tượng khô cứng của chủ nghĩa anh hùng mà như những cá thể sống động, có cảm xúc, có tình yêu, có nỗi nhớ.

Trong bài “Ngủ giữa cung đường”, những người lính lái xe ngủ ngay trong buồng lái giữa trọng điểm bom đạn. Cảnh tượng ấy vừa căng thẳng vừa bình yên. Tiếng bom gầm bên ngoài nhưng trong xe vẫn là “giấc ngủ say sưa”. Chi tiết này làm nổi bật sự bình thản của người lính trước hiểm nguy. Hay trong bài “Đường ra trận”, hình ảnh cô gái lái xe vừa mang vẻ đẹp nữ tính vừa mang phẩm chất anh hùng. Những chi tiết rất đời thường với bàn tay đan len, đôi má đỏ, mái tóc thơm mùi chanh sả…Nhưng chính cô gái ấy lại là người lái xe vượt qua những cung đường bom đạn. Sự kết hợp giữa vẻ đẹp dịu dàng và ý chí mạnh mẽ tạo nên một hình tượng phụ nữ Việt Nam thời chiến đầy sức sống.

Đặc biệt, trong bài “Mẹ Âu Cơ”, Trần Nhương đã nâng hình tượng người mẹ lên tầm biểu tượng dân tộc. Từ người mẹ tiễn con ra trận đến những người mẹ vùng chiến khu, tất cả hòa vào hình tượng Mẹ Âu Cơ – nguồn cội của dân tộc Việt Nam. Qua đó, nhà thơ khẳng định một tư tưởng lớn: đất nước được nuôi dưỡng bằng tình mẫu tử và lòng hy sinh của bao thế hệ. Phong cách thơ của Trần Nhương trong tập thơ này có thể khái quát qua ba đặc điểm chính: giàu chất hiện thực, giàu hình tượng và giàu nhạc điệu.

Một điểm đặc biệt của tập thơ là tinh thần lạc quan xuyên suốt. Dù viết về chiến tranh hay khó khăn của đời sống, giọng thơ vẫn hướng về tương lai. Nếu thơ Phạm Tiến Duật nổi bật bởi giọng điệu trẻ trung và tinh nghịch của tuổi trẻ Trường Sơn, nếu thơ Nguyễn Duy thiên về suy tư triết lý về thân phận con người, thì thơ Trần Nhương lại mang sắc thái trầm lắng, giàu chất ký ức và giàu chất đời sống.Điểm đặc biệt của ông là khả năng nhìn thấy vẻ đẹp của con người trong những chi tiết bình dị nhất của đời sống chiến tranh. Với “Gió bồn chồn Giêng Hai”, Trần Nhương đã tạo nên một tập thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Từ những ký ức chiến tranh đến đời sống hòa bình, từ những con đường Trường Sơn đến cánh đồng, bến biển, biên giới… tất cả được tái hiện bằng một giọng thơ chân thực, giàu cảm xúc.

Tập thơ không chỉ ca ngợi chiến thắng mà còn ca ngợi con người bình dị – những người đã làm nên lịch sử bằng lao động và hy sinh thầm lặng. Chính tình yêu con người và tình yêu đất nước ấy đã làm nên chiều sâu nhân văn cho thơ Trần Nhương. Trong dòng thơ viết về chiến tranh và hậu chiến của văn học Việt Nam, “Gió bồn chồn Giêng Hai” có thể xem như một bản ghi nhớ giàu cảm xúc về một thời đại, nơi vẻ đẹp của con người Việt Nam tỏa sáng trong cả chiến đấu lẫn lao động đời thường.

Ảnh nhà thơ Trần Nhương và tập thơ “Gió bồn chồn giêng hai”