Đỗ Quyên: Cánh chim đỗ quyên gieo chữ giữa hai bờ đại dương
Lê Bảo Nhi
Đỗ Quyên – cái tên như một ám ảnh thi ca, gợi nhớ hình ảnh con chim lưu lạc kêu tiếng nhớ nước thương nhà. Có lẽ, chẳng bút danh nào phù hợp hơn với một người con Hà Nội mang theo hành trang văn chương đi qua nửa vòng trái đất, để rồi giữa lòng Vancouver lạnh giá hay bên bờ biển Cabo nắng cháy, vẫn không ngừng viết về một quê hương thao thức trong từng nhịp thở.
"Bản đồ Việt Nam trên đầu giường/ Hình Tổ quốc như chiếc đinh giáng xuống”
Tên thật là Đỗ Ngọc Thủy, sinh năm 1955 tại Hà Nội, ông là một hiện tượng đặc biệt của văn chương Việt hải ngoại. Hành trình của ông là hành trình của một trí thức đa diện – từ cựu giảng viên ngành Vật lý Hạt nhân tại Đại học Bách khoa Hà Nội, đến cộng tác viên ở Viện Dubna (Nga), rồi làm báo ở Đức, Úc với học bổng Rockefeller ở Mỹ, và định cư tại Canada từ năm 1996. Nhưng xuyên suốt những biến thiên ấy, có một ngọn lửa chưa bao giờ tắt: ngọn lửa sáng tạo thi ca. Ông viết đủ thể loại, từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận đến phỏng vấn, nhưng có lẽ, trái tim ông thuộc về những trường ca dài hơi và đầy thách thức.
1.
Đỗ Quyên không chọn trường ca; trường ca đã chọn ông. Như lời ông tâm sự: “Nói chung tác giả không ‘chọn’ được thể loại”. Đó là một sự đeo đẳng, một mối duyên nợ. Ông thường “chọn những gì ít ai làm”, và trường ca chính là lối đi riêng đầy thách thức ấy.
Tập trường ca Lòng hải lý (2011) ra mắt trong nước, như một tiếng vọng đầy day dứt từ phương xa. Nó không đơn thuần là thơ về biển, mà là “biển chỉ là một cái cớ – cái cớ vĩ đại” để ông “nằm lên biển viết về mức tự do, tính khai phóng của thi sĩ”. Ở đó, ông thực hiện một cuộc “ly thân” – ly thân khỏi những khuôn mẫu quen thuộc, ly thân khỏi chính mình để đo khoảng cách giữa nhà thơ và khát vọng, như nhận xét của nhà văn Văn Chinh. Ông nhắc nhở rằng người sáng tác phải luôn ra khỏi những phạm trù quen thuộc, thậm chí “đả đảo đất dưới chân mình” để tìm lối đi mới.
Trường ca của Đỗ Quyên là một “khiêu khích thể loại”, như PGS-TS Văn Giá nhận định. Nó không còn mang tính sử thi thuần túy, không cần cốt truyện hay nguyên cớ thực tại lớn lao. Thay vào đó, ông đào sâu vào “nội tâm, tâm trạng và những suy tưởng”. Các tác phẩm như Đống chữ, Bài thơ không thuộc về ai đặt ra những vấn đề muôn thuở nhưng không kém phần nhức nhối: mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, số phận của thi ca, thân phận con người trong dòng chảy văn hóa. Đọc ông, người ta bắt gặp một “cá nhân văn hóa” đang vật lộn để tồn tại và giãi bày. Ông không mượn chiến tranh làm điểm tựa dễ dãi, vì với ông, “Càng hòa bình thì thơ càng đau hơn”.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên từng “trách vui, trách yêu”: “Thời nay viết được trường ca đã khổ, mà đọc trường ca còn khổ nữa.” Thế nhưng, chính trong “tâm thế viết, tâm thế đọc ấy của thời nay”, Đỗ Quyên vẫn kiên tâm bền bỉ, dành 25 năm trong 35 năm xa xứ để viết nên những trường ca, như một sự “sống chậm” giữa thế giới cuồn cuộn.
2.
Đỗ Quyên không chỉ là một nhà thơ đơn độc sáng tạo. Ông còn là một nhà nghiên cứu tâm huyết, một người xây cầu nối giữa văn học trong nước và hải ngoại với tư cách một nhà báo, biên tập viên. Đam mê trường ca đã thôi thúc ông thực hiện một công trình khảo cứu công phu: Trường ca Việt Nam – Tác giả và tác phẩm. Qua sưu tập, ông nhận ra một điều đáng tự hào: “Dường như, không có nền văn học nào trên thế giới mà thể loại trường ca đã đạt tới đỉnh, về nghệ thuật, tư tưởng, số lượng tác giả và nhất là tác dụng xã hội, như dòng trường ca chiến tranh Việt Nam…”
Với tư cách một người trong cuộc, ông có cái nhìn sắc sảo và tỉnh táo về văn học Việt hải ngoại. Ông chỉ ra sự phát triển chậm chạp chung của cả hai dòng văn học trong và ngoài nước. Ông phân tích năm điểm khác biệt của văn học hải ngoại thập kỷ 2010: sự hiểu biết lẫn nhau tăng nhưng chưa dẫn đến đồng cảm sâu sắc; tính phân tán cao, đề tài khó định danh; thơ Tân hình thức “xung” hơn nhưng chất lượng chưa khá hơn; và ít sự kiện văn học lớn. Nhưng trên hết, ông khẳng định giá trị cốt lõi: văn học hải ngoại “đã thực sự làm nơi chốn thiết yếu để khối 4 triệu người Việt ở ngoài nước vịn vào mà đứng lên trong đời xa xứ của mình.” Đó là một sứ mệnh nhân văn, vượt lên trên mọi khác biệt.
Ông cũng là một trong những người tiên phong tổ chức các diễn đàn kết nối trí thức trong và ngoài nước như “Diễn đàn Trí thức Việt Nam” (2001) và “Hội luận Văn học Việt Nam” (2008) – những cuộc gặp gỡ “trên trời” nhưng lại bàn chuyện rất sát mặt đất của văn chương nước nhà.
3.
Sáng tạo của Đỗ Quyên là một dòng chảy liên tục. Sau Lòng hải lý, và một số trường ca khác, ông tiếp tục cho ra đời Trường ca Cabo Mặt trời bình minh (2023). Tác phẩm như một bức tranh ghép hình từ những “lượng tử ánh sáng”, kết nối bờ biển Cabo San Lucas xa xôi với Tổ quốc: “Ta là một/ phần ngàn vạn triệu ức/ tia nắng ban mai...”. Ở tuổi gần thất thập, ông vẫn không ngừng tìm tòi, thể nghiệm, đem đến “một chiếc áo khác cho trường ca”.
Ông là một trong những gương mặt tích cực dấn thân vào lối viết hậu hiện đại trong văn chương tiếng Việt. Ông nhìn nhận đây là một hướng đi tất yếu và “đã trở thành một thực thể rất bình thường trong sự bất thường của riêng nó ở Việt Nam”. Từ các trường ca như Thơ Thời Gian, Trường ca Song Sinh đến tiểu thuyết Trung-Việt Việt-Trung, Đẻ Sách, ông đã vô thức rồi hữu thức nhập cuộc vào dòng chảy này, góp phần làm phong phú diện mạo văn học đương đại.
Nhưng đằng sau những thể nghiệm táo bạo ấy, trái tim ông vẫn là trái tim của một người con xa xứ luôn hướng về cội nguồn. Ông thừa nhận “hiếm tác giả nào có bàn viết ở ngoài biên giới lại không sáng tác ít nhiều về... tình hoài hương”, và xem đó là “hàn thử biểu cho tâm thức văn nghệ sĩ”. Nhưng ông cũng cảnh tỉnh rằng, một nhà văn xa xứ chỉ thực sự trưởng thành khi biết cách “chùi nước mắt”, “hóa nước mắt thành máu nuôi các đề tài khác”. Những câu thơ như “Bản đồ Việt Nam trên đầu giường/ Hình Tổ quốc như chiếc đinh giáng xuống” chính là sự hóa thân đau đớn và mạnh mẽ ấy của nỗi nhớ.
4.
Trong mắt bạn văn, Đỗ Quyên hiện lên với một nhân cách nghệ sĩ đáng trân trọng. Nhà văn Hoàng Minh Tường cảm nhận: “Anh Đỗ Quyên là người đích thực sinh ra để làm thơ, một người yêu thơ đến tận cùng.” Còn nhà thơ Trần Ninh Hồ nhận xét ông viết “nồng nhiệt nhưng không hề dễ dãi”, và ở trang sách nào cũng để lại một điều gì đó ám ảnh, như “Mùa thu không bao giờ bỏ rơi những chiếc lá rụng”.
Ông có quan điểm rõ ràng và cân bằng về các tranh luận trong làng thơ. Với cuộc giằng co giữa “xã hội hóa thơ” và “chuyên nghiệp hóa thơ”, ông cho rằng sự phân định danh hiệu là không cần thiết, cốt lõi vẫn là chất lượng: “Tiêu chí nghệ thuật đầu tiên và cuối cùng của thơ là hay.” Ông đề xuất một cách gọi đầy tinh tế: Thơ-Văn-Hóa (thơ đại chúng, mang phẩm chất văn hóa cao) và Thơ-Văn-Học (thơ chuyên nghiệp, có giá trị văn học). Sự phân biệt này không nhằm đề cao hay hạ thấp, mà để công nhận sự đa dạng vốn có của đời sống thi ca dân tộc.
5.
Khi được hỏi về mong ước cho văn học Việt Nam, Đỗ Quyên không nói những điều lớn lao về giải thưởng hay danh hiệu quốc tế. Ông trở về với điều giản dị, căn cốt và cũng là thách thức lớn nhất: “Tôi thực sự mong cho các sáng tác bằng tiếng Việt ở khắp nơi hãy tạo nên một dòng văn học đàng hoàng và tử tế.”
Hai chữ “tử tế” và “đàng hoàng” ấy, phải chăng chính là tinh thần xuyên suốt hành trình sáng tạo và cống hiến của ông? Tử tế với tiếng Việt, tử tế với lịch sử, tử tế với nỗi đau và niềm vui con người. Và đàng hoàng trong lao động chữ nghĩa, đàng hoàng trong việc giữ gìn và phát triển một dòng văn học có bản sắc, có phẩm giá, dù ở bất cứ nơi đâu trên bản đồ thế giới.
6.
Cuối năm nay, nhà thơ Đỗ Quyên đã có dịp trở về Hà Nội. Cuộc hội ngộ với bạn bè thuở thanh xuân, với cả những người bạn văn mới – những người vẫn luôn dõi theo hành trình sáng tác của ông – đã trở thành những kỷ niệm ấm lòng. Trong không khí thân tình ấy, một "Đêm Trường ca Đỗ Quyên" đã được bạn bè "ngẫu hứng" tổ chức, không hoành tráng mà giản dị, tinh chất, như một món quà tinh thần trúng tâm ý tác giả. Tại đây, nhà thơ đã xúc động đọc lại những câu thơ như khắc sâu vào tâm khảm: "Bản đồ Việt Nam trên đầu giường/ Hình Tổ quốc như chiếc đinh giáng xuống". Ông tâm sự: "Không hẳn là hay nhất mà đau nhất nên nhớ nhất!". Có lẽ, chính sự day dứt, đau đớn và nỗi nhớ thường trực ấy đã là ngọn lửa nuôi dưỡng một đời thơ, một đời "gieo chữ" không mệt mỏi của cánh chim Đỗ Quyên giữa trời xa.
7.
Đỗ Quyên, như cánh chim mang tên mình, vẫn không ngừng bay và hót giữa trời xa. Tiếng hót ấy không bi lụy, mà là tiếng hót của một tinh thần tự do, một trí tuệ tỉnh táo, luôn tìm tòi, luôn “khiêu khích” những giới hạn để mở ra những chân trời mới cho thi ca. Ông là nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa trong nước và hải ngoại, giữa truyền thống sử thi và những thể nghiệm hậu hiện đại. Và trên hết, ông là một “người thơ” – đúng nghĩa nhất của từ này – đã dùng cả đời mình để chứng minh rằng, thi ca chính là nơi chốn để con người “vịn vào mà đứng lên”, để giữ cho tiếng Việt còn mãi ngân vang, dù ở bất cứ phương trời nào.
Khúc vĩ thanh
Cùng với Đỗ Quyên, hành trình hướng về cội nguồn còn có sự đồng hành của nhiều cây bút hải ngoại khác, tạo thành một đội ngũ ngày càng đông đảo và có nhiều đóng góp vào dòng chảy chung của văn học Việt. Có thể kể đến những gương mặt như nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng (CHLB Nga), nhà văn Trần Thị Hảo (Pháp), nhà thơ Nguyễn Đức Tùng (Canada), nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai (hiện sống và sáng tác tại châu Âu),… Mỗi người một vùng trời, một cảm thức riêng, nhưng tất cả đều chung một mạch nguồn: giữ gìn và làm giàu đẹp thêm tiếng Việt, kết nối văn hóa giữa quê hương và thế giới. Ở đó, Đỗ Quyên nổi lên như một gương mặt thơ sáng giá, một nhịp cầu văn hóa bền bỉ và đầy tâm huyết giữa hai bờ đại dương.
LBN