“Nỗi buồn chiến tranh” tiểu thuyết của nhà văn Bảo Ninh được vinh danh trong 50 tác phẩm văn học nghệ thuật tiêu biểu sau năm 1975
Tâm điểm của tác phẩm là con người sau chiến tranh, tập trung vào dòng nội tâm của người lính với nỗi buồn triền miên và nỗi đau không dứt. Nhà văn dùng bút pháp hồi tưởng, lùi lại để nhìn về quá khứ. Tiểu thuyết được liên kết các đoạn hồi tưởng ngắn và suy ngẫm. Cốt truyện không tuân theo trật tự thời gian tuyến tính, mà thay vào đó nó đan xen giữa hiện tại, quá khứ và các chuỗi hồi tưởng bị ngắt đoạn, phản ánh bản chất của những ký ức bị chấn thương tâm lý đeo bám.
Nhà văn thừa nhận mình sống trong “Ký ức bị chấn thương tâm lý đeo bám” vì sau chiến tranh, năm ấy Bảo Ninh khoảng năm 23 tuổi, người chiến sĩ ấy được giữ lại làm công tác chính sách, đi tìm và thu nhặt hài cốt liệt sĩ trong khoảng một năm. Nhà văn nhớ lại “Đoàn tàu chở anh đi nhập ngũ có khoảng 500 người, nhưng sau chiến tranh chỉ còn khoảng 50 người quay về”
Sau chiến tranh anh viết tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” ghi nhắc về quá khứ chiến tranh hào hùng và đau thương, như để tri ân những người đã ngã xuống, những nỗi buồn, nỗi đau của mọi người, khi chiến tranh đi qua cuộc đời, là những thân phận thật của lịch sử. Nhân vật Kiên trong tiểu thuyết là bóng dáng của tác giả, cũng là bóng dáng của đồng đội, là bóng dáng trong văn học, theo kiểu xây dựng nhận vật như AQ của nhà văn Lỗ Tấn -Trung quốc.
Năm 1990 Nhà xuất bản hội nhà Văn Việt Nam do nhà văn tên tuổi Nguyễn Kiên làm Giám đốc, đã cho xuất bản tiểu thuyết của Bảo Ninh với tựa đề “Thân phận tình yêu”. Năm 1991 tiểu thuyết này được giải của Hội nhà văm Việt Nam và năm 1992 được tái bản trả lại tên ban đầu theo bản thảo là “Nỗi Buồn chiến tranh”. Đến nay tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” đã được tái bản 26 lần trong nước, 26 quốc gia đã dịch, riêng nhà xuất bản trẻ đã phát hành trên 8 vạn cuốn, Tiểu thuyết cũng đã nhận nhiều giải thưởng ở nước ngoài .
Sau lễ vinh danh trong 50 tác phẩm văn học nghệ thuật tiêu biểu sau năm 1975 do Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức tại Hà Nội ngày30/11/2025 tại Hà Nội. Có nhiều ý kiến trái chiều, khen che tác phẩm này. Tôi chỉ muốn đề cập đến nội dung tác phẩm, không nói đến bức ảnh phản cảm trong buổi lễ vinh danh.
Lẽ đời khen chê là tùy ý mỗi người. Thế nên viết văn xuôi ngược, cũng là ý tác giả. Tóm lại phải tôn trọng sự thật, dù văn chương có hư cấu sáng tác.
Để thống nhất nước nhà, là cuộc chiến tranh giữa 2 miền Nam Bắc, hai chế độ khác nhau. Để thống nhất nước nhà, máu xương của dân tộc đã đổ xuống từ hai phía. Nói về chiến tranh phải nói về sự mất mát đau thương để làm nên bản anh hùng ca thống nhất nước nhà. Bên cạnh dòng văn học tuyên truyền màu đỏ “Đường ra trận mùa nay đẹp lắm” thì cũng có những tác phẩm hiện thực trần trụi bi thương. Đã ra trận, là bom đạn đau thương, mất mát làm sao có thể coi là “ đẹp lắm”. Một thời tôi đã đã hát vang bài ca này ở Trường Sơn.
Văn chương phản ảnh về chiến tranh, mỗi nhà văn từ cách chọn đề tài, cách thể hiện góc nhìn cũng khác nhau, nhưng đều hướng đến mục địch cuối cùng, phản ảnh về chiến tranh. Tôi nhớ tới câu thanh ngữ phương Tây của Đại đế Constantinus, trị vì Đế quốc La Mã vào thế kỷ 4, (từ năm 306 đến 337). Ngài là vị hoàng đế La Mã đầu tiên theo đạo Kitô và thành lập thành phố Constantinople. Mượn ý tưởng về một công trình đánh dấu "mốc số 0" ở thành phố này (sau này gọi là thành rôm”. Câu nói của Đại đế đã trở thành thành ngữ "Mọi con đường đều dẫn đến Rome". Câu thành ngữ này có nghĩa là có nhiều cách khác nhau, để đạt được cùng một mục tiêu hoặc kết quả. Thành ngữ này nhấn mạnh, sự đa dạng trong phương pháp để thành công .
Nhìn lại cuộc chiến tranh hai miền Nam Bắc, đã đi qua chiến tranh quân sự, chiến tranh ngoại giao, để đạt được đích là thống nhất nước nhà. Trên thế giới nhiều cuộc chiến tranh xung đột đã xẩy ra, thảm họa chiến tranh đau thương chết chóc đổ nát hoang tàn… Rồi các bên vẫn phải cùng nhau ngồi vào bàn đàm phán- Chiến Tranh và hòa bình là thế đó.
Nói về chiến tranh nhà văn Bảo Ninh –một chiến sĩ trở về sau chiến tranh, đã chọn góc nhìn của mình, nói về những đau thương mất mát trong chiến tranh, để có hòa bình ngày thống nhất non sông. Đó cũng là một con đường “ đến với thành Rôm” còn có những góc nhìn khác, những con đường khác, của các nhà văn xây dựng tượng đài anh hùng trên đường đến chiến thắng, đó cũng là một con đường “ Đến với thành Rôm”.
Tác phẩm kinh điển "Chiến tranh và Hòa bình" là của đại văn hào Nga Lev Tolstoy (Lép Tôn-xtôi), từ thế kỷ 19, là một phần không thể thiếu của di sản văn học Nga và thế giới. Nếu không có chiến tranh, nếu không có hòa bình, chắc chắn sẽ không có tác phẩm kinh điển "Chiến tranh và Hòa bình" của Lev Tolstoy. Cặp phạm trù đại văn hào Lev Tolstoy đã đặt cho tác phẩm của mình là “Chiến tranh và hòa Bình”, có hiểu được những đau thương mất mát trong chiến tranh mới hiểu được những khát khao giá trị nhân văn của hòa bình.
Tôi không dám so sánh tác phẩm kinh điển "Chiến tranh và Hòa bình" là của đại văn hào Nga Lev Tolstoy với tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh mà chỉ nhận ra, Bảo Ninh cũng đã dùng cặp phạm trù “Nỗi buồn chiến tranh” thay vì tác giả khác có thể dùng “ Ngày vui Thống nhất” hay “ Anh hùng trận mạc” hay “ Kẻ hèn nhát” hay “ Đường ra mặt mùa nay đẹp lắm”… tất cả đều là “ mọi con đường đều dẫn tới thành Rôm”.
Chiến tranh không thể đi cùng với cụm từ niềm vui. Nhưng chiến tranh có thể đi cùng với cụm từ “ nỗi buồn” và nhà văn Bảo Ninh đã chon ý tưởng của con đường “ đến với thành Rôm” là nỗi buồn. Nỗi buồn ấy đã để lại cho chúng ta góc nhìn sự thật trần trụi , khác với cách nhìn là bản hùng ca, là màu hồng chói lọi để “ Đến với thành Rôm”.
Vẫn còn may tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh sau thai nghén của nhà văn còn được ra đời trong thời kỳ đổi mới năm 1987 dưới thời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Chiến tranh không thế nói là vui. Nó phù hợp vói cụm từ “nỗi buồn” trong lòng đại chúng, là cái chết, sự hoang tàn vì đạn bom. Chiến tranh không chỉ khốc liệt ở mặt trận, nó âm ỉ trong nỗi đau ở hậu phương, khi người vợ chờ chồng hóa đá vọng phu... Nó không chỉ là nỗi mất mát cho một phía, mà cho nhiều phía. Hậu chiến tranh là những vết thương năm tháng không lành.
Do đó, tôi nói “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh thời ấy, được ra đời vẫn là may mắn. Và tự thân tác phẩm này đã đi vào lòng đọc giả, bởi chính kiến của người đọc, dù khen chê đôi ngả là chuyện thường tình.